Quản lý rủi ro - Tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu




Được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, quản lý rủi ro sẽ giúp cho cơ quan Hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động XNK... Vì vậy, tại Điều 16 và 17 dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đã bổ sung quy định về nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan...

Theo phân tích của ban soạn thảo Luật Hải quan sửa đổi, Luật Hải quan hiện hành chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro”, chỉ duy nhất Khoản 1a Điều 15 Luật Hải quan đã quy định nội dung của thuật ngữ này. Tuy nhiên, tại các Điều 28, 29, 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan đã khiến cho việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.

Hiện nay, quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan Hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động XNK. Trong điều kiện thông quan tự động, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Công ước Kyoto sửa đổi tại các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro.

Theo ban soạn thảo Luật Hải quan sửa đổi, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế cũng đã bổ sung quy định về quản lý rủi ro, tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế và Luật Hải quan không hoàn toàn giống nhau. Do đó, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đã bổ sung nội dung này đảm bảo tương thích với Luật Quản lý thuế và để đảm bảo áp dụng quản lý rủi ro một cách đầy đủ, có hiệu quả, phù hợp với các Chuẩn mực nêu trên của Công ước Kyoto sửa đổi.

Hiện, vấn đề quản lý rủi ro là vấn đề kĩ thuật không chỉ áp dụng trong lĩnh vực hải quan mà trong nhiều lĩnh vực quản lý khác, kể cả trong các hoạt động của DN. Tuy nhiên đặc thù quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan khác với các lĩnh vực khác. Quản lý rủi ro trong hải quan được thực hiện trên cơ sở tất cả các nguồn thông tin thu thập được trong và ngoài nước để đánh giá tính tuân thủ của DN, từ đó quyết định việc kiểm tra hoặc không kiểm tra cũng như việc áp dụng hoặc không áp dụng các nghiệp vụ hải quan khác. Việc áp dụng quản lý rủi ro với mục đích cơ bản là tạo thuận lợi hơn cho XNK.

Do đó việc kiểm tra sẽ được tập trung ở những vùng miền, đối với những lô hàng của các DN có nguy cơ rủi ro cao hơn về độ không tuân thủ pháp luật hải quan.Theo thống kê hiện nay, hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan là khoảng 15-18%. Khi thực hiện áp dụng quản lý rủi ro theo Luật Hải quan mới, hoạt động kiểm tra sẽ ở mức khoảng 10-15%, theo hướng giảm hoạt động kiểm tra ở khâu thông quan và tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Theo đó, tại Điều 16 về Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan quy định:

1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; vận chuyển đúng tuyến đường, qua cửa khẩu hoặc các địa điểm khác theo quy định của pháp luật.

2. Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

3. Hàng hoá được thông quan, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan.

4. Thủ tục hải quan phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh 5. Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Và Điều 17 về Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan quy định:

1. Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.

2. Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm: Thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan; đánh giá rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để đề xuất áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.

4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo phân tích của ban soạn thảo, các quy định này sẽ tạo điều kiện để cơ quan Hải quan tập trung lực lượng ở những nơi có rủi ro cao, giảm lực lượng ở những nơi có rủi ro thấp, khắc phục tình trạng gian lận, góp phần đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho DN trên cơ sở phương pháp quản lý hải quan hiện đại.

Góp ý cho nội dung này, đại diện Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) cho rằng, quản lý rủi ro là một chính sách quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng tới các DN. Vì vậy, dự thảo Luật cần phải làm rõ cách thức tiến hành hoạt động quản lý rủi ro.

Đồng tình với ý kiến trên, theo đại diện của Phòng Thương mại Châu Âu (EuroCham), nguyên tắc quản lý rủi ro nên được quy định cụ thể trong Luật, với việc để dành quy định này cho Bộ Tài chính hướng dẫn như quy định trong dự thảo Luật sẽ dẫn đến sự lúng túng cho DN khi phải xây dựng hệ thống quản lý rủi ro để đáp ứng yêu cầu quản lý rủi ro của cơ quan Hải quan.
dịch vụ chữ ký số tại hải dương Theo baohaiquan


[Read More...]


Lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại vào cuối năm 2013



Đó là khẳng định của các chuyên gia tham dự hội thảo “Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2013”, do Viện Kinh tế - Tài chính thuộc Học viện Tài chính tổ chức sáng 11/7.

Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.,TS. Phạm Văn Đăng, Phó Giám đốc Học viện Tài chính cho biết, “bức tranh” kinh tế nước ta trong 6 tháng đầu năm đã có dấu hiệu khởi sắc, tuy nhiên nợ công còn cao, sức mua trong dân thấp, nợ xấu tăng cao… Qua hội thảo này, các chuyên gia phân tích, đánh giá và làm rõ “bức tranh” thị trường giá cả 6 tháng đầu năm và đưa ra dự báo cả năm 2013 nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô nước ta trong trung và dài hạn.

Tiềm ẩn lạm phát tăng cao trở lại

Đánh giá về tình hình tổng quan kinh tế vĩ mô nước ta 6 tháng đầu năm 2013, TS. Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều dấu hiệu tích cực, với kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2013 đều tăng. Tuy nhiên cán cân xuất, nhập khẩu đã ở trạng thái thâm hụt song chưa cao.

“Rủi ro kinh tế vĩ mô còn cao và tiềm ẩn nhiều nguy cơ lạm phát tăng cao vào những tháng cuối năm nay”, ông Thành, nói.

Phân tích những nguyên nhân khả năng lạm phát sẽ tăng cao vào những tháng cuối năm, TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính cho rằng, lạm phát 6 tháng đầu năm được kiềm chế ở mức thấp, song có khả năng sẽ tăng cao trong 6 tháng cuối năm.

Lấy dẫn chứng cho nhận định trên, ông Tuyến cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2013 tăng 2,4% so với tháng 12/2012 và tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Đáng nói, CPI 6 tháng đầu năm nay tăng 6,73% so với cùng kỳ năm trước. Yếu tố lớn nhất tác động làm tăng CPI những tháng đầu năm chính là việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế của nhà nước. Giá thuốc và dịch vụ y tế đến tháng 6/2013 đã tăng 13,88% so với tháng 12/2013 và tăng 58,69% so với cùng kỳ năm trước.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Đỗ Thị Ngọc - Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Giá của Tổng cục Thống kê nhận định, hai TP. Hà Nội và Hồ Chí Minh dự kiến sẽ tăng học phí vào tháng 9/2013 với mức tăng gấp 6 lần, với mức tăng này sẽ đóng góp vào chỉ số CPI chung tăng khoảng 0,75%. “Giữ lạm phát thấp thường khó bền trong khi lạm phát cao luôn thường trực xu hướng quay trở lại”, bà Ngọc cảnh báo.

Dự báo lạm phát năm 2013 của một số tổ chức quốc tế

JP Morgan Chase nhận định lạm phát cả năm của Việt Nam chỉ ở mức 6,1% thấp nhất kể từ năm 2003 tới nay. Tuy nhiên, Standard Chartered đã hạ dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2013 từ mức 8% xuống mức 7,2%. Trong khi đó, khác với dự báo của hai tổ chức trên, ngân hàng ANZ dự báo, mức lạm phát trung bình của Việt Nam trong năm nay sẽ ở ngưỡng khoảng từ 6-8%. Theo ANZ, mức tăng CPI của Việt Nam có thể xuống dưới 5% vào cuối quý III hoặc đầu quý IV/2013 trước khi kết thúc năm ở mức khoảng 5,5%.

Nhìn nhận vấn đề trên ở khía cạnh khác, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Phó Chủ tịch thường trực, Tổng Thư ký Hội Thẩm định Giá Việt Nam chia sẻ, với mức tăng của 6 tháng đầu năm, những tháng cuối năm chỉ số CPI sẽ tăng cao hơn, do sản xuất kinh doanh phục hồi, tổng cầu sẽ được cải thiện… nhưng mục tiêu cả năm có thể đạt được.

Cũng theo các chuyên gia, ngoài những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng cao trở lại ở trên, nền kinh tế nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và tiềm ẩn những rủi ro tác động đến kinh tế vĩ mô như: tồn kho, nợ xấu chưa được giải quyết hiệu quả; tăng trưởng tín dụng chưa ổn định; tác động của việc tăng giá của một số mặt hàng thiết yếu, của việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu…

“Còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất thường không lường trước được như thiên tai, dịch bệnh, cùng với đó là ngoại cầu giảm “ép” nội cầu xuống… là những vấn đề tác động trực tiếp đến rổ tính giá CPI”, ông Thỏa nói.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng
“Chưa bao giờ thu ngân sách lại khó khăn như năm nay…”

Các chuyên gia tham dự hội thảo đều tỏ ra quan ngại về tình hình thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2013 khi doanh nghiệp đình trệ hoạt động, giải thể tăng; tồn kho, nợ xấu tăng cao chưa được giải quyết…

Theo TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng CIEM, chưa có năm nào thu NSNN lại khó khăn như năm nay trong khi chi thường xuyên lại tăng theo từng năm. Như vậy, để cân đối đảm bảo mức bội chi ở mức 4,8% từ nay đến cuối năm là rất khó khăn.

Trong bài tham luận của mình, TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính cho rằng, thu NSNN gặp nhiều khó khăn do tăng trưởng kinh tế thấp và việc triển khai nhiều giải pháp tài khóa nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Chi NSNN dưới áp lực tăng cao để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013.

Theo Bộ Tài chính ngày 10/7, tổng NSNN 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 356.520 tỷ đồng, đạt 43,7% dự toán, tăng 4,5% mức thực hiện cùng kỳ năm 2012. Trong đó, thu nội địa đạt 236.170 tỷ đồng, bằng 43,3% dự toán; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 49,3% (loại trừ khoản hạch toán ghi thu khoản lãi khí nước chủ nhà thì đạt 46%); thuế bảo vệ môi trường đạt 40%...

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hoàng mai Tổng chi NSNN thực hiện 6 tháng đầu năm ước đạt 448.910 tỷ đồng, bằng 45,9% dự toán, tăng 7,5% so với cùng kỳ.

Với số liệu ước tính ở trên cho thấy, năm 2013 sẽ là một năm rất khó khăn trong thực hiện dự toán thu - chi NSNN, đặc biệt thu từ hoạt động xuất nhập khẩu.

Ngoài ra, Nghị quyết 01 và 02/NQ-CP đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp về tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh nên sẽ có tác động làm giảm thiểu số thu NSNN, như các giải pháp về hỗ trợ tài chính, miễn, giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp. Đặc biệt, từ ngày 1/7/2013, Luật bổ sung, sửa đổi Luật thuế Thu nhập cá nhân có hiệu lực chắc chắn sẽ làm cho số thu thuế năm nay giảm hơn năm 2012…/.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo tapchitaichinh


[Read More...]


Ngân hàng lớn đang dồn ứ một lượng vốn lớn



Vietcombank đã đưa lãi suất huy động xuống còn 5%/năm đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn 1 tháng. Ngoài Vietcombank, Agribank cũng áp dụng lãi suất 5%/năm cho kỳ hạn 1 tháng.Động thái hạ lãi suất chứng tỏ các NH lớn đang dồn ứ một lượng vốn rất lớn. Ngược lại một số ngân hàng nhỏ vẫn đang huy động vượt trần khá xa.

Sợ mất vốn

Người dân hiện có thể gửi tiền tại một số ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh với lãi suất 9%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, vượt 2% so với trần quy định và 4% so với Vietcombank, Agribank.

Có một điều mà rất nhiều người thắc mắc là thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang ở giai đoạn trầm lắng nhất kể từ đầu năm 2013 với nguồn cung dồi dào và nhu cầu hạn chế. Lãi suất đang duy trì ở mức thấp từ 1- 1,2%/năm kỳ hạn qua đêm đến 1 tuần; 2%/năm với kỳ hạn 1 tháng và 4,5%/năm với kỳ hạn 3 tháng.

Vậy nhưng sao nhiều ngân hàng không thể vay được ở đây, lại phải huy động ở thị trường dân cư với mức cao hơn rất nhiều.

Các chuyên gia ngân hàng cho biết điều đó chứng tỏ thị trường tiền tệ liên ngân hàng của Việt Nam thời gian qua không có sự phát triển. Phân tích về vấn đề này các ý kiến cho rằng nếu thị trường tiền tệ liên ngân hàng phát triển thì những ngân hàng thừa vốn không cho vay ra nền kinh tế có thể cho vay các ngân hàng khác thông qua thị trường này. Khi đó các ngân hàng nhỏ có thể huy động được nguồn vốn rẻ chứ không quá cao lên tới 9% như hiện nay.

Đặt câu hỏi với giám đốc Chi nhánh 1 ngân hàng thương mại cổ phần đang huy động vốn vượt trần vì sao không tìm nguồn vốn rẻ từ các ngân đang thừa vốn trên thị trường liên ngân hàng, ông này cho biết, rất muốn, nhưng các ngân hàng đó không chấp nhận cho vay.

Theo các chuyên gia, lý do là vì các ngân hàng yếu không tạo ra được lòng tin với các ngân hàng lớn.

Cho vay có khi khó thu hồi, vốn vay rất có thể biến thành nợ xấu, chính vì vậy mà nhiều ngân hàng thừa vốn nhưng nhất quyết không đẩy ra thị trường liên ngân hàng, không mạnh dạn cho vay lẫn nhau.
Ngược lại những ngân hàng yếu không thể vay được trên thị trường này cứ ra huy động vốn trên thị trường dân cư với lãi suất cao và tạo nên sự chênh lệch lớn về lãi suất huy động như hiện nay.

Tình trạng vượt trần huy động đến nay tuy không gây ra hiện tượng cạnh tranh, nâng lãi suất huy động do thanh khoản nhiều ngân hàng đã tốt lên và tín dụng tăng trưởng thấp, nhưng cũng khiến cho nhiều ngân hàng không dám mạnh tay hạ lãi suất. Chỉ một số ngân hàng lớn như Vietcombank, Agribank có được nhiều nguồn vốn giá rẻ và chấp nhận tăng trưởng tín dụng thấp, để đảm bảo chất lượng mới dám mạnh tay hạ lãi suất xuống thấp, còn nhiều ngân hàng khác không thể làm như thế.

Vẫn phải vay vốn lãi suất cao

Hiện trên thị trường nhiều ngân hàng thương mại cổ phần vẫn áp mức lãi suất huy động ở mức kịch trần 7%/năm. Và điều này khiến cho lãi suất cho vay khó hạ thấp. Trên thực tế, lãi suất cho vay vẫn từ 9% - 14%/năm. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước nửa đầu năm 2013, số vốn vay có lãi suất dưới 10%/năm rất khiêm tốn, chỉ 14% trong khi lãi vay từ 10% - 13%/năm chiếm tới 50% trong tổng dư nợ, còn lại trên 13%/năm.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
Đặc biệt với các ngân hàng đang huy động vốn mức 9%/ năm thì cho vay từ 13%- 14%/năm là mức khá cao. Theo các chuyên gia, nếu như các ngân hàng này huy động được vốn trên thị trường liên ngân hàng với mức lãi suất thấp thì lãi suất cho vay cao nhất sẽ chỉ ở mức 11%/năm và mặt bằng lãi suất chung sẽ thấp hơn rất nhiều. Như vậy các DN dễ tiếp cận được vốn hơn, bởi các điều kiện cho vay của những ngân hàng này không khắt khe như các ngân hàng lớn.

Khi đó, các ngân hàng lớn sẽ phải đưa lãi suất cho vay xuống thấp hơn để cạnh tranh. Điều này có lợi chung cho sản xuất kinh doanh trong hoàn cảnh hiện nay. Nhưng rất tiếc nó đã không sảy ra.

Nếu như công việc tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém diễn ra đúng kế hoạch thì đến nay các ngân hàng yếu kém đã được xử lý và niềm tin đã quay lại, thị trường liên ngân hàng chắc chắn đã phát triển. Ở đó những ngân hàng thừa vốn và thiếu vốn có thể tìm đến với nhau. Nhiều ngân hàng sẽ tìm được nguồn vốn rẻ và nhiều ngân hàng sẽ giải quyết được một lượng lớn vốn thừa chứ không phải cảnh có cung có cầu mà không thể gặp nhau như hiện nay.

Quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém diễn ra chậm hơn so với dự kiến dẫn đến muốn làm gì cũng bị vướng, tiến sỹ Cao Sỹ Kiêm nhận xét.

dịch vụ chữ ký số tại quận cầu giấy Về phía Ngân hàng Nhà nước lại có vẻ chưa đưa ra được biện pháp hữu hiệu nào trong việc xử lý các ngân hàng yếu kém. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trong báo cáo gửi các Đại biểu Quốc hội kỳ họp vừa qua, cho biết quá trình cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém diễn ra chậm hơn so với dự kiến.

Do khuôn khổ pháp lý cho việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng nói chung chưa hoàn thiện. Ngoài ra, việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục, quy định. Đáng chú ý, vì quyền lợi cá nhân, một số cổ đông lớn của các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém thiếu sự hợp tác hoặc chống đối với chính sách, biện pháp cơ cấu lại của Ngân hàng Nhà nước, gây thêm khó khăn cho quá trình cơ cấu lại các ngân hàng này.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông Theo vef


[Read More...]


Chuẩn bị cho sự vận hành cổng thông tin Cơ chế hải quan một cửa quốc gia



Sáng 19-7, tại Hà Nội, Tổng cục Hải quan có buổi làm việc với đại diện Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải và một số đơn vị liên quan để thảo luận hướng giải quyết những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc nhằm sớm đưa vào vận hành cổng thông tin Cơ chế hải quan một cửa quốc gia (NSW). Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Vũ Ngọc Anh chủ trì buổi làm việc.

Cần thống nhất

Theo Ban Cải cách hiện đại hóa Hải quan (Tổng cục Hải quan), để thực hiện Thông tư liên tịch số 84/2013/TTLT-BTC-BCT-BGTVT hướng dẫn thực hiện thí điểm NSW, về cơ bản các đơn vị chuyên trách thuộc Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan, Cục Hàng hải Việt Nam đã thống nhất quy trình thực hiện.

Về kết nối hệ thống CNTT của các bộ thực hiện thí điểm đầu tiên (Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải), đơn vị cung cấp dịch vụ kĩ thuật đã thử nghiệm giải pháp kết nối với các hệ thống CNTT của các bộ, ngành.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Đối với Cổng thông tin thủ tục đối với tàu biển xuất nhập cảnh của Cục Hàng hải, kết quả sơ bộ cho thấy, giải pháp kĩ thuật cơ bản đáp ứng yêu cầu và sẵn sàng trao đổi dữ liệu theo yêu cầu tại Thông tư 84.

Với hệ thống eCOSys (cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa qua phương thức điện tử) của Bộ Công Thương có tính khả thi về mặt kĩ thuật song vẫn cần có sự thống nhất sâu hơn về mặt kĩ thuật (giữa các bộ).

Hệ thống hải quan điện tử (e-Customs) và hệ thống tiếp nhận bản lược khai hàng hóa điện tử đối với tàu biển xuất nhập cảnh (e-Manifest) của Tổng cục Hải quan đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc và sẵn sàng cho việc kết nối.

Trên cơ sở khảo sát (về mặt kĩ thuật) tại 3 bộ, Ban Cải cách hiện đại hóa Hải quan đánh giá, hệ thống CNTT của các Bộ: Tài chính, Bộ Giao thông vận tải và Công Thương cơ bản đáp ứng yêu cầu cho việc kết nối Cổng thông tin NSW.

Vấn đề đặt ra ở đây là việc các bộ cần thống nhất về mặt tiêu chuẩn kĩ thuật để kết nối trong hệ thống của Cổng thông tin NSW.

Vì lợi ích doanh nghiệp

Việc thực hiện NSW không chỉ là tiền đề quan trọng để Việt Nam kết nối vào Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), mà đó còn là giải pháp quan trọng trong đơn giải hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của doanh nghiệp.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh nhấn mạnh: Quyết định 48/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư liên tịch 84 đã đưa ra những quy định rõ ràng, cụ thể. Vì thế các bộ, ngành liên quan cần chung tay để cụ thể hóa bằng các chương trình hành động cụ thể của mình.

Việc xây dựng và đưa vào vận hành Cổng thông tin NSW sẽ phải tạo thêm nhiều thuận lợi hơn nữa cho cộng đồng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tế triển khai hệ thống liên bộ này là không hề dễ dàng vì nó vừa liên quan đến mặt kĩ thuật, vừa liên quan đến vấn đề nghiệp vụ của nhiều bộ, ngành. Nên các bộ, ngành liên quan cần tích cực tìm ra các phương án, giải pháp thực hiện tối ưu, hiệu quả.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình Để cụ thể hóa các yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 84, Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh đề nghị các đơn vị cần thảo luận để đi đến thống nhất các vấn đề then chốt: Thống nhất tiêu chuẩn kĩ thuật. Vấn đề này phải được đơn vị có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ triển khai các giải pháp kĩ thuật.

Đồng bộ hệ thống quản lí người sử dụng. Đó là đồng bộ về dữ liệu, hệ thống quản lí, bởi thực tế hiện nay mỗi bộ, ngành vẫn đang tồn tại những hệ thống quản lí riêng mà ở đó vẫn có những khác biệt nhất định (trong tiêu chí quản lí người sử dụng) giữa bộ, ngành.

Thực hiện kết nối thử nghiệm và trao đổi thông tin trên hệ thống (Cổng thông tin NSW). Tổ chức đào tạo, tập huấn cho doanh nghiệp và cán bộ công chức.

Để tạo điều kiện cho việc thực hiện Cổng thông tin NSW thuận lợi, đảm bảo đúng yêu cầu, Tổng cục Hải quan kiến nghị lãnh đạo các bộ, ngành liên quan một số nội dung: Phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện; lựa chọn, quyết định thời điểm khai trương chính thức kết nối hệ thống; các đơn vị chuyên môn của Bộ Công Thương và Cục Hàng hải khẩn trương phối hợp với Tổng cục Hải quan để thống nhất, phê duyệt tiêu chuẩn kĩ thuật của hệ thống; nhanh chóng tổ chức đào tạo cho doanh nghiệp và cán bộ công chức.
dịch vụ chữ ký số tại quận cầu giấy Theo baohaiquan
[Read More...]


Doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu được khuyến khích



Theo Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Bằng, trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng huy động vốn qua phát hành cổ phiếu của DN giảm mạnh, chỉ đạt 2.344 tỷ đồng (giảm 58% so với cùng kỳ). Do vậy, để hỗ trợ DN có nguồn vốn trên thị trường chứng khoán, từ nay đến cuối năm 2013, UBCKNN đã đề xuất Bộ Tài chính, Chính phủ nhiều biện pháp tháo gỡ, tạo thuận lợi cho DN.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Theo đánh giá của UBCKNN, một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu là do chất lượng hàng hóa phát hành, niêm yết còn trong giai đoạn phát triển theo chiều rộng nên khi thị trường chứng khoán có khó khăn đã bộc lộ những hạn chế nhất định như: Vấn đề quản trị công ty, công bố thông tin, quản trị rủi ro của các DN mặc dù không ngừng được hoàn thiện nhưng mức độ tuân thủ vẫn còn hạn chế. Chất lượng báo cáo tài chính kiểm toán còn chưa cao. Vi phạm về công bố thông tin và những vi phạm về gian lận trong báo cáo, hồ sơ vẫn còn tồn tại. Dẫn tới, việc cổ phiếu của các DN không còn hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Ngoài ra, những khó khăn của nền kinh tế trong năm 2012 tiếp tục kéo dài đến quý II-2013 khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty gặp nhiều khó khăn, mặt khác do các điều kiện niêm yết, quản lý giám sát chặt chẽ hơn đặc biệt là vấn đề công bố thông tin nên số lượng công ty niêm yết mới giảm mạnh và số lượng công ty bị hủy niêm yết tăng với mức cao nhất từ trước tới nay. Trong 6 tháng đầu năm 2013, số lượng công ty niêm yết mới tăng khoảng 7 công ty; trong khi đó có 21 công ty và 1 chứng chỉ quỹ bị hủy niêm yết (trong đó 16 công ty huỷ niêm yết bắt buộc, 3 công ty huỷ niêm yết tự nguyện, và 2 công ty chuyển sang thị trường Upcom), đưa tổng số công ty niêm yết trên 2 sàn khoảng 737 công ty; (chưa kể 135 công ty giao dịch trên hệ thống Upcom).
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng
Từ đó, UBCKNN đã đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN: Xem xét tháo gỡ khó khăn cho việc phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá trên cơ sở ý kiến của Đại hội đồng cổ đông về giá phát hành dưới mệnh giá, đồng thời DN vẫn phải tuân thủ các điều kiện phát hành ra công chúng và một số điều kiện quy định khác. Trong thời gian trước mắt cho phép các tổ chức niêm yết, không phải ngành kinh doanh có điều kiện được phát hành dưới mệnh giá nếu có đủ thặng dư vốn bù đắp. Xem xét tháo gỡ cho DN trong vấn đề huy động vốn qua phát hành trái phiếu. Đồng thời, tiếp tục thúc đẩy cổ phần hóa, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tổ chức có nhu cầu đầu tư lâu dài; xây dựng cơ chế chào bán theo nhiều phương thức linh hoạt.

Về phía UBCKNN sẽ tăng cường giám sát các DN thực hiện các quy định về nâng cao chuẩn mực niêm yết, tăng cường công bố thông tin và quản trị DN. Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo về quản trị công ty, quản trị rủi ro DN.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo baohaiquan
[Read More...]


Sẽ bị thanh tra nếu không bán nợ xấu



Những ngân hàng có nợ xấu sẽ được xem xét mua lại, trong trường hợp giấu giếm không chủ động bán sẽ bị thanh tra, kiểm toán làm rõ để xử lý.

Đó là những biện pháp chủ yếu mà Công ty quản lý tài sản (VAMC) sẽ sử dụng để giải quyết gần 140.000 tỉ đồng nợ xấu hiện nay, khi chính thức ra mắt ngày 26/7.

“Siêu” công ty

Theo Nghị định 53 của Chính phủ, VAMC là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sở hữu 100% vốn với nhiệm vụ chính là xử lý nợ xấu cho hệ thống, hoặc cũng có thể đầu tư vào các doanh nghiệp (DN) thông qua mua cổ phần, góp vốn… Hai biện pháp kỹ thuật được dùng là: mua trực tiếp bằng tiền; phát hành trái phiếu đặc biệt để các ngân hàng mua lại bằng đúng món nợ xấu, các ngân hàng có thể dùng trái phiếu này thế chấp, vay tái cấp vốn từ NHNN.

Có thể thấy VAMC là một “siêu” công ty với đủ cơ chế ưu ái, đặc thù khi hoạt động không vì lợi nhuận, vốn điều lệ chỉ 500 tỉ đồng. Vốn mỏng nên VAMC được phát hành trái phiếu đặc biệt mua lại các món nợ xấu của ngân hàng, tất nhiên những món nợ phải có tài sản thế chấp và các DN phải còn khả năng trả nợ…

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng Việc mua bán nợ đòi hỏi phải rất minh bạch và quá trình giám sát cũng phải rất chặt chẽ. Bởi đa phần các khoản nợ hiện nay đều gắn nhiều đến thị trường bất động sản, nếu không giải trình minh bạch dễ dẫn đến sự hiểu lầm của dư luận...
TS. Lê Đăng Doanh Ngoài ra, theo Nghị định 53, nếu ngân hàng nào có nợ xấu chiếm trên 3% tổng dư nợ không bán lại, NHNN sẽ thanh tra, hoặc đề nghị kiểm toán và buộc phải bán lại. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhận xét cơ chế này dù hơi hướng mang tính chất “ép buộc” nhưng lại hết sức cần thiết trong bối cảnh nợ xấu cao, cần phải xử lý gấp và việc các ngân hàng lâu nay vẫn thường xuyên giấu giếm, không công khai tình trạng, mức độ nợ xấu thật.

Trước đó, vào cuối tháng 6/2013, Chánh thanh tra NHNN Nguyễn Hữu Nghĩa đã công bố tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng tính đến hết tháng 5/2013 là 4,65% tổng dư nợ, có 30 trong tổng số 124 tổ chức tín dụng có mức nợ xấu trên 3% tổng dư nợ. Như vậy, ngay sau khi đi vào hoạt động, NHNN đã có thể căn cứ vào quy định này để yêu cầu phải sớm bán lại nợ xấu cho VAMC.

Cần công khai minh bạch

Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho rằng sau khi đi vào hoạt động VAMC sẽ xử lý được khoảng 40.000 đến 70.000 tỉ đồng nợ xấu trong 2013. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, việc này là hết sức khó khăn. Ông Nguyễn Văn Thuận, Trưởng khoa Tài chính ngân hàng - Trường đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, nhận xét: “Khả năng này sẽ khó đạt vì năm 2013 chỉ còn có 5 tháng nữa. Công ty thì mới đi vào hoạt động nên thị trường cũng chưa kỳ vọng nhiều. Phải có thời gian thì khoản nợ xấu kia mới có thể giải quyết được”.

Cũng theo ông Thuận, trong thời gian đầu, những khoản nợ xấu có thanh khoản cao được xử lý trước, lúc đó đồng vốn sẽ quay vòng nhanh để xử lý những khoản nợ xấu còn lại. “Các khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo thường là bất động sản, khi những khoản nợ này được giải quyết, thanh khoản trên thị trường bất động sản sẽ tốt hơn. Dòng tín dụng từ ngân hàng đối với DN cũng sẽ tốt hơn”, ông Thuận đề xuất thêm.

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh (BDI), số nợ xấu 70.000 tỉ đồng quá lớn, trong khi những quy định về quy chế hoạt động của VAMC cũng như thông tư hướng dẫn hiện chưa được ban hành. Quan trọng hơn cả, đó chính là việc định giá lại nợ xấu hiện nay không hề đơn giản khi thị trường mua bán nợ xấu, cũng như các đơn vị định giá vẫn chưa thực sự chuyên nghiệp…

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho biết VAMC theo quy định chỉ xử lý nợ xấu có tài sản đảm bảo, thế chấp và DN có khả năng trả được nợ. Hiện tại, không ít DN không có tài sản thế chấp, tài sản không đủ giá trị, nên sẽ khó lòng được mua nợ. Vì vậy, việc kỳ vọng xử lý nhanh, cũng như làm sạch nợ trong hệ thống để khơi thông dòng tín dụng sẽ không hề đơn giản.

Về giải pháp dùng “tiền mặt” mua trực tiếp nợ theo giá thị trường, theo ông Thành, cũng hàm chứa nhiều yếu tố rủi ro cả về khâu định giá, cũng như khả năng thực sự của VAMC khi mức vốn điều lệ hiện nay chỉ có 500 tỉ đồng.

TS. Lê Đăng Doanh khẳng định việc mua bán nợ đòi hỏi phải rất minh bạch và quá trình giám sát cũng phải rất chặt chẽ. Bởi đa phần các khoản nợ hiện nay đều gắn nhiều đến thị trường bất động sản, nếu không giải trình minh bạch dễ dẫn đến sự hiểu lầm của dư luận... Vì vậy, VAMC cần phải công khai những khoản nợ xấu được xử lý để dư luận được biết.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo tapchitaichinh
[Read More...]


Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương: Giải pháp xây dựng kế toán quản trị chi phí



Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có thể chưa có điều kiện để xây dựng hệ thống kế toán quản trị DNNVV hoàn chỉnh nhưng kế toán quản trị chi phí thì không thể thiếu trong bất kỳ quy mô doanh nghiệp nào. Bài viết đưa ra một số giải pháp xây dựng kế toán quản trị chi phí DNNVV trên địa bàn Thanh Hóa.

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa tính đến năm 2012 có 5.839 doanh nghiệp là DNNVV trong tổng số hơn 6.400 DN, chiếm 91,2% các DN hoạt động trên địa bàn tỉnh. Số lượng các DNNVV trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng năm sau cao hơn so với năm trước.

Tổng thu về ngân sách do các DNNVV đóng góp chiếm hơn 90% trong tổng thu ngân sách từ hoạt động của các DN (tổng thu ngân sách năm 2012 là 4.671.715.517.611 đồng trong đó DNNVV đóng góp: 4.070.790.642.132 đồng). Tuy nhiên, có một thực tế là DNNVV trên địa bàn tỉnh thường là các DN hạn chế về vốn, về công nghệ, năng lực quản lý yếu… nên trong những năm qua khi kinh tế khó khăn các DNNVV là các DN bị ảnh hưởng nhiều nhất. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là hệ thống thông tin và dự báo thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong các DN này còn yếu kém, chưa thực hiện chức năng tư vấn cho các nhà quản trị DN. Các nhà quản trị chưa được cung cấp thông tin thích hợp, cần thiết phục vụ trong quá trình đưa ra các quyết định kinh doanh.



Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù cả hai hệ thống kế toán là kế toán tài chính và kế toán quản trị đều có chức năng cung cấp thông tin cho nhà quản trị nhằm mục đích điều hành DN, tuy nhiên, kế toán quản trị có một số khác biệt so với kế toán tài chính thông thường đó là: Kế toán quản trị bắt buộc phải thực hiện trong DN. Báo cáo của kế toán quản trị chỉ sử dụng trong phạm vi DN, không công bố ra ngoài. Mục tiêu của báo cáo quản trị nhằm cung cấp thêm các thông tin chi tiết về một hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có kèm theo chức năng phân tích, chức năng dự báo và tư vấn. Có thể khẳng định vai trò quan trọng của kế toán quản trị chi phí trong DN như sau:

Một là, kế toán quản trị chi phí tham gia vào quá trình lập kế hoạch, hoạch định các chiến lược phát triển DN bao gồm cả dự toán nguồn kinh phí để thực hiện kế họach; Giúp cho DN chủ động hơn trong tìm kiếm nguồn lực, huy động tối đa năng lực hiện có của DN.

Hai là, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát chi phí trong đơn vị. Thông qua các báo cáo kế toán quản trị về chi phí ở từng bộ phận, từng khâu có sự so sánh giữa kế hoạch và định mức xác định được mức độ chênh lệch từ đó phân tích đưa ra nguyên nhân dẫn đến chênh lệch chi phí và có biện pháp can thiệp kịp thời.

Ba là, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định của chủ DN. Thông qua các thông tin về chi phí mà kế toán quản trị cung cấp chủ DN có thể đưa ra các quyết định liên quan: Lựa chọn cơ cấu sản xuất sản phẩm; quyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, định giá bán sản phẩm.

Vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, luân chuyển xử lý chứng từ là khâu quan trọng, quyết định đến thông tin kế toán. Do vậy, việc tổ chức luân chuyển trong các đơn vị phải nhằm đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời nhanh chóng, tránh chồng chéo.

Bốn là, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cần thiết cho chủ DN đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị như tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận của DN.

Thông qua vai trò của kế toán quản trị trong DNNVV ở trên có thể khẳng định để hòa nhập vào sự phát triển chung của nền kinh tế của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung đòi hỏi sự phát triển của các DN, các đơn vị kinh doanh. Kế toán quản trị chi phí với việc thực hiện chức năng tư vấn trong quá trình hoạch định kế hoạch, chiến lược và kiểm tra, giám sát, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sẽ là cần thiết để các DNNVV có thể phát triển ổn định hiện tại và tương lai.

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị

Thực trạng kế toán quản trị chi phí ở doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa

Tổ chức kế toán quản trị chi phí ở các DNNVV trên địa bàn Tỉnh còn hạn chế sau đây:

Một là, về bộ máy kế toán: Theo nghiên cứu của tác giả bộ máy kế toán của các DNNVV được xây dựng chủ yếu tập trung vào công tác thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của kế toán tài chính cho việc tổng hợp mà chưa có bộ phận riêng phục vụ cho yêu cầu quản trị cũng như phân tích hoạt động kinh doanh.

Hai là, về công tác phân loại chi phí sản xuất kinh doanh. Hiện nay, chi phí sản xuất kinh doanh trong đơn vị mới chỉ được phân loại phục vụ cho kế toán tài chính, phân loại chi phí phục vụ cho quản trị chi phí trong DN như: Phân loại chi phí theo ứng xử chi phí, phân loại chi phí sử dụng trong lập kế hoạch và ra quyết định.. gần như chưa được quan tâm.

Ba là, về xây dựng định mức và lập dự toán sản xuất kinh doanh: Một số các DN có quy mô thuộc về DN vừa đã xây dựng định mức, dự toán chi phí trong đơn vị, tuy nhiên, dự toán chi phí còn đang nằm ở dạng kế hoạch giá thành được lập theo từng loại chi phí để tính giá thành đơn vị sản phẩm, dự toán chưa được lập riêng cho chi phí cố định và chi phí biến đổi. Dự toán tồn tại dưới dạng dự toán tĩnh chưa phải dự toán linh hoạt nên khó đưa ra quyết định kinh doanh trong điều kiện thị trường thay đổi.

Bốn là, về hệ thống chứng từ, sổ sách và báo cáo quản trị: Nhiều công ty chưa sử dụng đầy đủ các chứng từ cần thiết để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh cho đúng với tính chất và nội dung của nghiêp vụ cũng như yêu cầu quản lý; Thiếu các chứng từ kế toán nội sinh để phản ánh các nghiệp vụ phục vụ cho yêu cầu quản trị DN, các báo cáo quản trị gần như không tồn tại. Đặc biệt, ở DN siêu nhỏ, hệ thống kế toán rất manh mún, việc ghi chép các số liệu phát sinh gần như mang tính ghi chép, không có logic trong chuẩn mực kế toán. Đến cuối tháng, khi nộp báo cáo thuế, kế toán tự “chế biến” số liệu cho hợp lý, do vậy, hầu như báo cáo tài chính của những DN dạng này không có ý nghĩa tham khảo. Với những DN thuê dịch vụ kế toán thì việc ghi chép rất chính xác và đúng quy định nhưng thông tin kế toán không đáp ứng tính kịp thời do thông thường, các kế toán dạng này chỉ nhận chứng từ vào cuối ngày hoặc cuối tháng để tổng hợp. Do vậy, báo cáo tài chính của các DN này gần như không đáp ứng được thông tin như công nợ, tồn kho… Các DN mới chỉ dừng lại báo cáo bắt buộc theo quy định của pháp luật còn báo cáo quản trị phục vụ cho yêu cầu quản trị thì hầu như chưa có cơ sở để thực hiện.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Năm là, đội ngũ nhân viên kế toán, ở một số DN có đội ngũ nhân viên kế toán tuy nhiên các nhân viên kế toán này mới chỉ được đào tạo để thực hiện công tác kế toán tài chính còn kế toán quản trị chưa có trình độ kiến thức đảm bảo để thực hiện.

Sáu là, các phần mềm dùng cho quản trị DN chưa được ứng dụng do hạn chế chi phí tối đa và chưa nhận thức được vai trò quan trọng của kế toán quản trị.

Như vậy, hệ thống kế toán tồn tại ở các DNNVV trên địa bàn Tỉnh hiện nay không làm cơ sở, nền tảng cho thực hiện kế toán quản trị trong DN.

Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh

Để nâng cao hiệu quả tổ chức hệ thống kế toán trong DNNVV, tăng cường khả năng cạnh tranh của DNNVV Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán của DN theo hướng hoàn thiện kế toán quản trị chi phí như sau:

Một là, xây dựng bộ máy kế toán phù hợp với cơ cấu quản lý của công ty. Mô hình xây dựng bộ máy kế toán ở đây là mô hình kết hợp cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Xác định số lượng nhân viên kế toán cần thiết để đảm nhận khối lượng công việc kế toán của công ty. Tìm kiếm những nhân viên kế toán có trình độ phù hợp với quy mô phát triển của công ty để tiết kiệm chi phí.

Hai là, tổ chức thực hiện, vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, luân chuyển xử lý chứng từ là khâu quan trọng, quyết định đến thông tin kế toán. Do vậy, việc tổ chức luân chuyển trong các đơn vị phải nhằm đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời nhanh chóng, tránh chồng chéo.

Ba là, xây dựng hệ thống báo cáo quản trị trong DN, báo cáo của kế toán quản trị đựợc sử dụng kết hợp với các báo cáo khác của DN như báo cáo về thị trường, đối thủ cạnh tranh, công nghệ sản xuất... để có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố đang tác động đến hoạt động của DN. Việc cung cấp thông tin kế toán phải đa dạng, phải coi trọng việc xây dựng, khai thác hệ thống báo cáo nội bộ và phải thấy được ý nghĩa của báo cáo kế toán quản trị chi phí trên các mặt sau: Cung cấp số liệu để phân tích thường xuyên tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế theo từng mặt cụ thể.

Bốn là, hệ thống kế toán quản trị không có một quy chuẩn pháp lý chung nào về hình thức lẫn nội dung báo cáo. Do đó, DN phải tự xây dựng một hệ thống chỉ tiêu kế toán quản trị cụ thể theo mục tiêu quản trị đặt ra. Các chỉ tiêu này phải đảm bảo so sánh được giữa các thời kỳ để đưa ra được các đánh giá chính xác về thực tế tình hình hoạt động của DN.

Năm là, ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu. Hiện nay nhiều DN vẫn chưa sử dụng một hệ thống phần mềm quản trị thống nhất, mà chỉ mới áp dụng phần mềm kế toán, nên việc lấy số liệu chỉ dừng ở việc tận dụng nguồn thông tin từ kế toán tài chính, trong khi chưa có sự liên kết giữa các bộ phận khác nhau.

dịch vụ chữ ký số tại quận 11 Sáu là, quan tâm đến đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán nâng cáo trình độ của nhân viên, nhằm nâng cao chất lượng của thông tin kế toán trong đơn vị và có thể thực hiện được kế toán quản trị chi phí trong các DNNVV.

Bảy là, DN cần xây dựng qui trình sản xuất thống nhất, thiết lập hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Điều này không những giúp DN chuẩn hoá hoạt động mà còn là cơ sở để cung cấp nguồn số liệu chính xác cho kế toán quản trị trong quá trình lập báo cáo. Chính sự thống nhất về bản chất số liệu sẽ giúp việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả hơn.

Qua nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV, tác giả nhận thấy năng lực cạnh tranh của DNNVV trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa đang còn hạn chế, một trong những nguyên nhân dẫn đến trong cạnh tranh các DNNVV đang còn yếu đó là chức năng quản trị DN trong đơn vị chưa thực hiện tốt, hệ thống thông tin của kế toán quản trị chưa được tận dụng và khai thác. Vì vậy, tác giả đã đưa ra phương hướng xây dựng kế toán quản trị chi phí trong DNNVV góp phần hoàn thiên hơn hệ thống kế toán ở các DN này, để kế toán quản trị phát huy chức năng là công cụ tư vấn cho nhà quản trị DN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo tapchitaichinh
[Read More...]


Có “cứu” được doanh nghiệp khi hạ lãi suất?



Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN): 6 tháng đầu năm, tăng trưởng huy động vốn lên tới 8,5%, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 4,5% cho thấy các ngân hàng đang ứ đọng vốn. Vì ứ đọng vốn, các ngân hàng liên tiếp giảm lãi suất cho vay, tuy nhiên không phải vì thế mà doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay…

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng
Chạy đua giảm lãi suất

Tính riêng 6 tháng đầu năm 2013, Vietcombank có mức tăng trưởng tín dụng âm 1,1%; Vietinbank tăng 1,5%, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) khác có mức tăng trưởng không đáng kể, doanh số giao dịch giảm tới 80%... Những dấu hiệu này chứng tỏ nguồn vốn của các ngân hàng đang ứ đọng ở mức đáng báo động. Nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, giải quyết nguồn vốn ứ đọng, các ngân hàng đua nhau giảm lãi suất.

"Doanh nghiệp đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn như hàng tồn kho, nợ xấu, lạm phát đang dần tăng... Để doanh nghiệp tiếp cận được vốn, ngoài những động thái giảm lãi suất thời vụ, các ngân hàng thương mại nên tìm cách giảm chi phí các yếu tố đầu vào để giảm lãi suất dài hơn, tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn, với thời gian đủ để các doanh nghiệp có thể phục hồi và đi vào kinh doanh, sản xuất ổn định”.

TS. Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội
Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/7/2013, NHNN đã ban hành Chỉ thị 03, kêu gọi mức tăng tín dụng toàn hệ thống là 12% cho năm 2013, yêu cầu các NHTM chủ động cân đối các nguồn vốn, điều chỉnh lãi suất và thời hạn vay để ổn định thị trường kinh tế. Theo đó, các ngân hàng chủ động rà soát dư nợ các khoản vay cũ, xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay để chia sẻ khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt bằng lãi suất cho vay của nhóm NHTM Nhà nước đối với các lĩnh vực ưu tiên như: Nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 7-9%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác khoảng 9-10,5%/năm đối với ngắn hạn; trung và dài hạn khoảng 11,5-12,8%/năm. Đặc biệt, với một số doanh nghiệp tài chính minh bạch, có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, các NHTM cho vay lãi suất chỉ 6,5-7%/năm.

Ngay sau đó, hàng loạt ngân hàng tuyên bố giảm lãi suất vay vốn, như Techcombank giảm xuống 8,5%/năm cho tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tháng 7 và 8/2013, VIB giảm xuống 7,77%/năm, 7,5%/năm của Vietcombank, 6% của VPBank, BIDV, Agribank và Vietcombank xuống mức 5%/năm...

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì Doanh nghiệp sợ ăn “bánh vẽ”

Theo chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Trí Hiếu, động thái giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng khá tích cực và mạnh tay, tuy nhiên chỉ gây “choáng” tức thời, chứ khó có thể kéo mức tăng trưởng tín dụng nhanh chóng cân bằng với tăng trưởng huy động vốn, bởi thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận được nguồn vốn. “Nếu xác định được khách hàng tiềm năng, doanh nghiệp tốt, ngân hàng sẵn sàng cho vay với lãi suất ưu đãi, nhưng chỉ là ưu đãi ngắn hạn, bởi NHTM cũng chỉ dồi dào nguồn vốn ngắn hạn, họ không thể mạo hiểm rót vốn lớn để “cứu” doanh nghiệp với thời hạn cho vay kéo dài. Bởi, xét cho cùng, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, họ kinh doanh tiền tệ trên cơ sở phải có lợi và an toàn, việc “chọn mặt gửi vàng”, “trông giỏ bỏ thóc” cũng là chuyện bình thường” - TS. Nguyễn Trí Hiếu lý giải.

Chị Lê Ngọc Diệp - Giám đốc một công ty may tại Nam Định cho biết: “Doanh nghiệp nhỏ chúng tôi không phải cứ muốn vay vốn là vay được. Nếu không chứng minh được thực lực, không có phương án kinh doanh, khả năng thanh toán... sẽ rất khó vay. Chưa kể, một số doanh nghiệp nhỏ, vốn ít thường không được các ngân hàng đón tiếp. Chính vì vậy, dù các ngân hàng tuyên bố giảm lãi suất, hô hào cho vay, nhưng doanh nghiệp vẫn không hết “khát” vốn”.

Hơn nữa, cái cách các ngân hàng đang cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi giống như cho “ăn bánh vẽ”, bởi thông thường các ngân hàng chỉ cho vay vốn ưu đãi trong thời gian ngắn từ 1-3 tháng, sau đó thả nổi lãi suất về mức chung của thị trường. “Cái chúng tôi cần không chỉ là mức lãi suất hạ, mà là cần một phương án dài hơi, cần sự chung tay của ngân hàng, cần được “cứu” thực sự”, chị Diệp bày tỏ.
dịch vụ chữ ký số tại quận bình tân Theo giaothongvantai
[Read More...]


Chịu tác động mạnh từ khó khăn của doanh nghiệp trong thu hồi nợ đọng



Tính đến 31-5-2013 nợ thuế chuyên thu quá hạn của ngành Hải quan khoảng 6.173 tỷ đồng, so với thời điểm 31-12-2012 nợ thuế chuyên thu tăng khoảng 361 tỷ đồng. Tuy đã nỗ lực, số thu hồi nợ thuế quá hạn của ngành Hải quan trong 5 tháng đầu năm chỉ đạt 843 tỷ đồng. Vì vậy, tăng cường công tác quản lý thuế và thu hồi nợ đọng là nhiệm vụ quan trọng trong công tác thu NSNN mà ngành Hải quan đang ráo riết triển khai...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22-7-2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế. Trong đó, tại Điều 55 quy định chi tiết việc xóa nợ tiền thuế, tiền phạt không có khả năng thu hồi phát sinh trước ngày 1- 7- 2007. Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể các điều kiện xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, hồ sơ, thủ tục, trình tự giải quyết xóa nợ tiền thuế, tiền phạt đối với các trường hợp.

Với việc hướng dẫn bổ sung trường hợp được xoá nợ tiền thuế, tiền phạt sẽ đảm bảo quyền lợi cho người nộp thuế, giảm gánh nặng cho DN với các khoản nợ phát sinh do lịch sử để lại chưa được xử lý (khoanh nợ, nợ ảo). Tạo thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan Thuế và Hải quan đối với những khoản nợ tiền thuế, tiền phạt mà các cơ quan này đã áp dụng đầy đủ biện pháp cưỡng chế thi hành và quá 10 năm, nhưng vẫn không có khả năng thu hồi... Điều này sẽ giảm thiểu đáng kể số thuế nợ đọng của ngành Hải quan.

Tác động không thuận

Phân tích về con số nợ thuế, theo Cục thuế XNK (Tổng cục Hải quan), số nợ thuế trên bao gồm cả các khoản nợ đọng từ những năm 2005 trở về trước chưa thu hồi được. Các khoản nợ này chủ yếu là do Luật thuế XK, NK có hiệu lực thi hành trước 1-1-2006 cho phép DN được nợ thuế mà không ràng buộc điều kiện phải là DN chấp hành tốt pháp luật thuế. Có tình trạng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập DN, lợi dụng chính sách ân hạn thuế để trây ỳ nợ thuế, không nộp thuế đúng hạn...

Bên cạnh đó, quá trình triển khai Luật Quản lý thuế (có hiệu lực từ 1-7-2007) đã phát sinh vướng mắc, tồn tại dẫn đến hạn chế khả năng thu hồi nợ đọng. Việc cho áp dụng ân hạn thuế dẫn đến DN lợi dụng trây ỳ không nộp thuế đúng thời hạn mặc dù có khả năng thanh toán, phối hợp của các cơ quan chức năng trong thực hiện thu hồi nợ thuế, cung cấp về thông tin người nộp thuế còn hạn chế và thiếu thông tin về tài khoản của DN tại các ngân hàng và số dư tài khoản.... đã khiến số nợ thuế gia tăng.

Một nguyên nhân nữa đó là quá trình thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Điều 93 Luật Quản lý thuế dù đã có tác động tích cực trong thu hồi nợ thuế, nhưng cũng bộc lộ những mặt hạn chế. Việc thực hiện tuần tự các biện pháp cưỡng chế (nếu không phát hiện người nộp thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản) sẽ không thật sự hiệu quả do không được áp dụng những biện pháp cần áp dụng ngay một cách phù hợp nhất.

Và nguyên nhân quan trọng là do nền kinh tế vẫn còn ảnh hưởng của suy thoái, nhiều DN gặp khó khăn về tài chính đã ảnh hưởng đến việc thanh khoản, nộp thuế. Cá biệt có một số DN rơi vào tình trạng có nguy cơ giải thể hoặc phá sản. Tính đến hết tháng 6-2013, số DN giải thể, ngừng hoạt đã lên tới 26.324 DN, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy tình hình thu NSNN gặp không ít khó khăn, nhưng tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố công tác thu hồi nợ đọng trong nửa đầu năm 2013 đã được triển khai tích cực.

Số thu hồi nợ đọng đối với các tờ khai phát sinh trước ngày 31-12-2012 tại Cục Hải quan TP.HCM đạt trên 707 tỷ đồng; tại Cục Hải quan Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 30,2 tỷ đồng; tại Cục Hải quan Hải Phòng thu được 416 tỷ đồng; tại Cục Hải quan Hà Nội là 147,25 tỷ đồng; tại Cục Hải quan Quảng Ninh là 48,282 tỷ đồng; tại Cục Hải quan Lạng Sơn là 20,442 tỷ đồng…

Có thể thấy, tuy đã tích cực triển khai các biện pháp thu, nhưng kết quả thu hồi nợ đọng trong 6 tháng đầu năm 2013 của ngành Hải quan vẫn chưa đạt được như mục tiêu đề ra… Nguyên nhân theo các đơn vị, chủ yếu do tình hình DN gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

Chủ động trong cách thức triển khai

Xác định việc thu hồi nợ đọng là một trong những giải pháp để thu hồi NSNN, vì vậy, để giảm số nợ thuế, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo Hải quan các địa phương trình các cấp có thẩm quyền xóa các khoản nợ được xóa theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1-7-2013 (bao gồm nợ đã quá hạn 10 năm đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế nhưng chưa thu được, nợ của DN cổ phần hóa, sáp nhập, chuyển đổi sở hữu… phát sinh trước ngày 1-7-2007).

Đối với các khoản nợ quá hạn không có khả năng thu hồi của DN tự ngừng hoạt động nhưng chưa quá 10 năm, không thuộc đối tượng được xóa, Hải quan các địa phương sẽ hoàn tất hồ sơ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý theo thầm quyền.

Bên cạnh đó, Tổng cục cũng yêu cầu Hải quan các địa phương cần áp dụng trình tự thanh toán tiền thuế theo quy định tại Điều 45 Luật Quản lý thuế và khoản 12 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế. Đồng thời, phối hợp với cơ quan Thuế nơi DN đóng trụ sở để thực hiện thu hồi nợ thuế XNK đối với các DN được hoàn thuế GTGT tại cơ quan Thuế. Theo dõi chặt chẽ nợ thuế tạm thu để yêu cầu DN nộp thuế kịp thời khi quá thời hạn nộp thuế mà DN chưa XK. Theo dõi, quản lý chặt chẽ hàng gia công, nắm chắc thời hạn kết thúc của từng hợp đồng gia công để yêu cầu DN thanh khoản, nộp thuế đối với số hàng hóa chuyển tiêu thụ nội địa.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Cùng với đó, Tổng cục Hải quan tiếp tục duy trì Tổ đôn đốc, thu hồi nợ thuế của các Cục Hải quan địa phương để định hướng, chỉ đạo, giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện công tác thu hồi nợ, gắn trách nhiệm của CBCC với việc khen thưởng, kỷ luật nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công tác thu hồi nợ. Đối với các trường hợp có số nợ lớn có khả năng thu, Tổ đôn đốc, thu hồi nợ thuế của các Cục phối hợp với các cơ quan Công an, các ngân hàng thương mại, các cơ quan pháp luật có liên quan tại địa phương để thu hồi nợ.

Đặc biệt, hiện Tổng cục Hải quan đang xây dựng Quy trình theo dõi, quản lý nợ thuế, theo đó quy trình này sẽ quy định nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện công tác theo dõi quản lý nợ thuế đối với hàng hoá XNK. Quy trình này cũng được áp dụng để theo dõi quản lý nợ thuế đối với hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan các cấp và đưa ra các tiêu chí phân loại nợ (nhóm nợ khó thu, nhóm nợ chờ xử lý, nhóm nợ có khả năng thu), các bước thực hiện quản lý nợ… Và quy định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị từ cấp Tổng cục đến cấp chi cục… Theo đó, quy trình này được triển khai sẽ là một giải pháp rất hữu hiệu trong công tác thu hồi nợ thuế của ngành Hải quan.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Ông Đào Tiến Khương - Phó trưởng Phòng Quản lý nợ Cục Thuế XNK (Tổng cục Hải quan) cho biết, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế đã khắc phục được những bất cập và khó khăn của cơ quan Hải quan trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế.

Tại Khoản 26 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 93; bổ sung khoản 3 vào Điều 93 đã quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bao gồm:

a) Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong tỏa tài khoản;

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;

c) Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

d) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng;

đ) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật;

e) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;

g) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.

3. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định tại các điều 97, 98, 98a, 99, 100, 101 và 102 của Luật này và quy định khác của các văn bản pháp luật có liên quan. Trong trường hợp người nộp thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quy định tại Điều 94 của Luật này quyết định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để đảm bảo thu hồi nợ thuế kịp thời cho ngân sách Nhà nước.”
dịch vụ chữ ký số giá rẻ tại hà nội Theo baohaiquan


[Read More...]


Lợi nhuận bị ảnh hưởng trầm trọng



Ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt như Sacombank, còn hầu hết các ngân hàng đều gặp khó khăn trong tăng trưởng tín dụng. Điều đó khiến cho lợi nhuận bị ảnh hưởng trầm trọng, do lợi nhuận của các ngân hàng vẫn phụ thuộc vào tín dụng.

Vietcombank là một ví dụ. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất 6 tháng đầu năm 2013 đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, giảm 7,5% so với cùng kỳ, tương đương 46% kế hoạch cả năm của ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tín dụng, vì 6 tháng đầu Vietcombank tăng trưởng tín dụng âm 1%, trong đó tín dụng tiền đồng tăng 5% trong khi tín dụng ngoại tệ giảm 16-17%.

Lợi nhuận sụt giảm

Theo CTCK Tp.HCM (HSC), do tăng trưởng tín dụng âm và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) giảm khoảng 0,2% còn 2,7% nên thu nhập lãi thuần giảm khoảng 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, lãi thuần hoạt động dịch vụ lại tăng đến 18% nhờ nghiệp vụ thanh toán quốc tế và bảo lãnh tăng trưởng tốt, và Vietcombank chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu trong thị trường thẻ. Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng mạnh khoảng 30% nhờ Vietcombank có lợi thế cung cấp dịch vụ ngoại tệ cho một số dự án lớn của quốc gia.

HSC chỉ ra nguyên nhân tín dụng của Vietcombank tăng trưởng âm là do khách hàng doanh nghiệp giảm nhu cầu vay vốn. Theo cơ cấu khách hàng, Vietcombank cho vay cá nhân tăng 3,4% trong khi cho vay doanh nghiệp giảm 2,2% do khoản vay của một số doanh nghiệp lớn đã đáo hạn.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên HSC ước tính tăng trưởng tín dụng cả năm của Vietcombank sẽ đạt 11%, trong đó trọng tâm sẽ đặt nhiều vào cho vay doanh nghiệp thuộc các ngành thông thường hơn là các ngành đặc biệt. Do đó, lợi nhuận trước thuế năm 2013 đạt 5.765 tỷ đồng, không thay đổi so với năm 2012.

Một trường hợp khác là Ngân hàng Quân đội (MB), cũng cho thấy tăng trưởng tín dụng thấp đã tác động tới lợi nhuận của ngân hàng. Theo HSC, sau 6 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của MB đạt khoảng 8-9% và lãi thuần hoạt động dịch vụ tăng 5%. Còn thu nhập khác nhiều khả năng sẽ chỉ tăng nhẹ. Ước tính lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt khoảng 1.750 tỷ đồng (giảm 6% so với cùng kỳ), hoàn thành 50% kế hoạch.

HSC cho rằng tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của MB chủ yếu tập trung vào khách hàng hiện tại vì hiện chiến lược khách hàng mới có xu hướng tập trung hơn vào dịch vụ thay vì cho vay. Điều này xuất phát từ truyền thống của MB là tập trung vào quản trị rủi ro và điều này khẳng định MB là ngân hàng cho vay rất thận trọng.

Trong khi đó, HSC dự báo cả năm 2013, MB sẽ đạt lợi nhuận trước thuế là 3.440 tỷ đồng trong năm 2013 và kỳ vọng tăng trưởng tín dụng đạt 15-16%, cao hơn giới hạn tăng trưởng tín dụng do NHNN quy định là 12%. Trong khi đó, cuộc họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2013 của MB mới diễn ra cuối tuần qua cho biết lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt 1.754 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu trong nhóm các ngân hàng TMCP.

Với mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn năm 2012 (25,6%) nhưng vẫn đạt kế hoạch lợi nhuận đặt ra, theo HSC, có được kết quả này là nhờ MB vẫn được hưởng lợi từ nguồn huy động chi phí thấp (với tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao từ các khách hàng lâu dài). "Theo đó, thu nhập lãi thuần sẽ tăng 14%", HSC giả định.

Ngoài ra, HSC còn dự báo lãi thuần hoạt động dịch vụ sẽ tăng trưởng 13% và lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối sẽ không tăng trưởng nhiều. MB vẫn sử dụng HĐ kinh doanh ngoại hối để hỗ trợ hoạt động cho vay. Tổng thu nhập hoạt động theo đó tăng trưởng 13%.

Không nhiều ngân hàng xin "nới room"

Theo nhận định của giới chuyên gia, năm 2013 sẽ không nhiều ngân hàng xin "nới room" tín dụng vì hoạt động cho vay sẽ rất khó khăn. Thực tế, thời gian qua, những ngân hàng có tăng trưởng tín dụng cao chủ yếu đến từ cho vay tiêu dùng. Ví như Sacombank, NamABank, SeABank…

Điểm lại thời gian qua cho thấy, hiện mới có Sacombank, NamABank là được NHNN nới room tín dụng lên 20% và 30%. Thời gian tới, nếu có thêm ngân hàng xin nới room cũng chỉ vài trường hợp như MB, TienPhongBank, SeABank…

Tăng tín dụng 6 tháng đầu năm nay đạt 4,5%, cao hơn rất nhiều so với mức 0,76% cùng kỳ năm ngoái. Thế nhưng, thay vì có tới 23 ngân hàng đồng loạt xin nới chỉ tiêu tăng tín dụng như năm 2012, năm nay dừng ở mức vài ngân hàng.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận đống đa Con số này cũng cho thấy, sự khó khăn trong việc góp vốn vào nền kinh tế và nó cũng phản ánh sự thận trọng của chính các ngân hàng, khi mà những nỗi lo như nợ xấu, hàng tồn kho vẫn chưa thực sự qua đi. Nhưng một thiểu số lạc quan cũng đem lại niềm tin về một bức tranh sáng sủa hơn trong 6 tháng cuối năm.

Giới phân tích cho rằng sở dĩ lợi nhuận của ngân hàng còn "sáng sủa" như vậy là do NHNN đã hoãn áp dụng Thông tư 02 sang năm 2014. Do đó, kết quả 6 tháng đầu năm 2013 vẫn tiếp tục có sự "hỗ trợ" lớn của Quyết định 780 (cho phép cơ cấu lại nợ). Nếu không có quyết định này, hoặc thực hiện ngay Thông tư 02 về phân loại nợ và trích lập dự phòng một cách chặt chẽ hơn từ 1/6/2013 thay vì được lùi lại 1 năm, lợi nhuận của nhiều ngân hàng sẽ bị co hẹp đáng kể so với những con số đang dần được công bố.

Một tham khảo là, báo cáo của NHNN hồi đầu tháng 6/2013 cho hay, việc thực hiện Quyết định 780 đã giúp các TCTD giảm đáng kể mức độ trích lập dự phòng rủi ro. Trong khi đó, theo số liệu 4 tháng đầu năm 2013, nếu không thực hiện Quyết định 780, các TCTD đã phải trích lập thêm 14,4 nghìn tỷ đồng, khi đó toàn hệ thống sẽ có chênh lệch thu – chi âm 1,3 nghìn tỷ đồng.

Theo giới chuyên gia, trong tương lai, khi Quyết định 780 kết thúc vai trò, Thông tư 02 được áp dụng, những con số lợi nhuận của các NHTM sẽ có "chất" hơn. Và việc giảm tăng trưởng tín dụng ở thời điểm hiện tại khiến lợi nhuận ngân hàng sụt giảm nhưng sẽ giúp ngân hàng tái cơ cấu các khoản vay, sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn.

Còn doanh nghiệp thiếu vốn cũng tự nhìn lại, tái cấu trúc để vượt qua khó khăn. Năm 2013, cũng không thể nôn nóng tăng tín dụng bởi tăng tín dụng không an toàn sẽ là gánh nặng khi nợ xấu tăng.
dịch vụ chữ ký số giá rẻ tại hà nội Theo thoibaokinhdoanh
[Read More...]


Tiêu chuẩn của Kế toán trưởng



Kế toán trưởng giữ một vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn. Để làm kế toán trưởng đòi hỏi phải đáp ứng một số tiêu chuẩn và điều kiện nhất định.

Theo quy định của Luật Kế toán, để làm kế toán trưởng phải đáp ứng được tiêu chuẩn và điều kiện như sau :

Tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng

+ Kế toán trưởng phải có các tiêu chuẩn sau đây:

♦ Các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ;

♦ Có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán từ bậc trung cấp trở lên;

♦ Thời gian công tác thực tế về kế toán ít nhất là hai năm đối với người có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán từ trình độ đại học trở lên và thời gian công tác thực tế về kế toán ít nhất là ba năm đối với người có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán bậc trung cấp.

+ Người làm kế toán trưởng phải có chứng chỉ qua lớp bồi dưỡng kế toán trưởng.

+ Chính phủ quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng phù hợp với từng loại đơn vị kế toán.

Trách nhiệm và quyền của kế toán trưởng

+ Kế toán trưởng có trách nhiệm:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức ♦ Thực hiện các quy định của pháp luật về kế toán, tài chính trong đơn vị kế toán;

♦ Tổ chức điều hành bộ máy kế toán theo quy định của Luật này;

♦ Lập báo cáo tài chính.

+ Kế toán trưởng có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán.

+ Kế toán trưởng của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, ngoài các quyền đã quy định tại khoản 2 Điều này còn có quyền:

♠ Có ý kiến bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán về việc tuyển dụng, thuyên chuyển, tăng lương, khen thưởng, kỷ luật người làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ;

♠ Yêu cầu các bộ phận liên quan trong đơn vị kế toán cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu liên quan đến công việc kế toán và giám sát tài chính của kế toán trưởng;

♠ Bảo lưu ý kiến chuyên môn bằng văn bản khi có ý kiến khác với ý kiến của người ra quyết định;

♠ Báo cáo bằng văn bản cho người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán khi phát hiện các vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán trong đơn vị; trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người đã ra quyết định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.numerals and finance

Thông tư 199/2011/Tt-BTC ngày 30/12/2011 (hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2012 ) hướng dẫn việc thực hiện tổ chức bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng.

– Người Việt Nam tham dự khoá học bồi dưỡng kế toán trưởng phải có các tiêu chuẩn sau đây:

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì ♣ Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật;

♣ Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về tài chính, kế toán, kiểm toán từ bậc trung cấp trở lên và có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán như sau:

- Tối thiểu là 2 năm trở lên kể từ ngày ghi trên bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán;

- Tối thiểu là 3 năm trở lên kể từ ngày ghi trên bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc cao đẳng chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán;

♣ Có Đơn xin học, trong đó có xác nhận thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán của cơ quan đang công tác, kèm theo bản sao có chứng thực Bằng tốt nghiệp chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán.

– Người nước ngoài có Chứng chỉ chuyên gia kế toán, Chứng chỉ hành nghề kế toán, Chứng chỉ kiểm toán viên hoặc bằng tốt nghiệp đại học của các tổ chức nước ngoài (Được Bộ Tài chính Việt Nam thừa nhận) được tham dự khoá học bồi dưỡng kế toán trưởng do đơn vị đủ điều kiện tổ chức khoá học bồi dưỡng kế toán trưởng cho người nước ngoài.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo webketoan


[Read More...]


Thu ngân sách đạt trên 62% chỉ tiêu tại cục hải quan Bình Phước



Tính đến ngày 31/7/2013, tổng số thu ngân sách của Cục Hải quan Bình Phước ước đạt 89,6 tỉ đồng, đạt 62,2% so với chỉ tiêu Bộ Tài chính giao và tăng 52,3 so với cùng kì năm 2012.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Theo Cục Hải quan Bình Phước, từ đầu năm đến nay, tình hình xuất nhập khẩu tại đơn vị tăng hơn so với cùng kì năm ngoái. Đặc biệt là các mặt hàng gỗ, cao lanh, cao su, vải, nguyên liệu, dệt nhuộm. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp trên địa bàn đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, ngay từ các tháng đầu năm, các Chi cục đã luôn chú trọng và đẩy mạnh công tác thu hút doanh nghiệp về làm thủ tục tại đơn vị.

7 tháng đầu năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Bình Phước đạt khoảng trên 470 triệu USD, tăng 60% so với cùng kì năm 2012. Trong đó mặt hàng cao su xuất khẩu đã có mức tăng rất cao. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã tăng đến 750% so với cùng kì năm 2012. Trong đó kim ngạch chịu thuế tăng trên 350%.
dịch vụ chữ ký số tại quận cầu giấy
Bên cạnh mặt hàng cao su, mặt hàng gỗ cũng tăng cao cả về số lượng và kim ngạch do có thêm một DN mới về làm thủ tục tại đơn vị. Ngoài ra, sự góp mặt của mặt hàng thanh gỗ cao su xuất khẩu đã qua sơ chế cũng đã góp phần tăng sản lượng xuất khẩu mặt hàng gỗ từ đầu năm đến nay. Trong 6 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ đã tăng gần 259% so với cùng kì 2012.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo tapchitaichinh
[Read More...]


Thu NSNN đạt 83,49% kế hoạch được giao ở Cục Hải quan Tp. Cần Thơ



Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan thành phố Cần Thơ thì tính đến ngày 07/8/2013, ước thực hiện thu NSNN đạt trên 684 tỷ đồng, bằng 83,49% chỉ tiêu kế hoạch năm 2013, tăng 78,46% so với cùng kỳ năm 2012.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Trong đó, 3/4 Chi cục thông quan trực thuộc Cục Hải quan TP. Cần Thơ đã thu đạt và vượt chỉ tiêu thu NSNN năm 2013 được giao. Trong đó:

Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Cần Thơ: Chỉ tiêu thu NSNN năm 2013 được Cục Hải quan TP. Cần Thơ giao là 153 tỷ đồng. Thì tính đến hết ngày 07/8/2013, Chi cục đã thu NSNN đạt trên 161 tỷ đồng, bằng 105,23% kế hoạch được giao năm 2013.

Chi cục Hải quan Cửa khẩu Vĩnh Long, ước thực hiện thu NSNN đạt trên 244 tỷ đồng, bằng 148,29% dự toán giao (Chỉ tiêu thu NSNN năm 2013 được giao là 165 tỷ đồng).

dịch vụ chữ ký số giá rẻ tại hải dương Chi cục Hải quan Sóc Trăng: Dự toán thu NSNN năm 2013 được giao là 2 tỷ đồng. Tính đến ngày 08/8/2013, Chi cục Hải quan Sóc Trăng đã thu NSNN ước đạt 21 tỷ đồng, vượt 1.060,05% chỉ tiêu được giao năm 2013.

Kết quả thu NSNN của Hải quan Cần Thơ đạt được trong hơn 7 tháng vừa qua rất đáng khích lệ trong bối cảnh ngành Hải quan đặt mục tiêu thu ngân sách là nhiệm vụ cấp bách và quyết tâm đạt được trong năm 2013. Từ đầu năm tới nay, ngành Hải quan Cần Thơ đã phát huy hiệu quả từ các biện pháp như: tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu thuế.

Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu NSNN năm 2013 mà Bộ Tài chính giao, Cục Hải quan Cần Thơ đã đề ra những nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác thu NSNN trong thời gian tới như: Thực hiện cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể trong thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu, đẩy mạnh công tác xử lý các khoản nợ đọng thuế…./.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo tapchitaichinh


[Read More...]


Kiểm toán nội bộ là sự phát triển tất yếu



Nếu như kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thì cho đến nay, khái niệm kiểm toán nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp.

Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty.

Trong khi hoạt động của kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích của kiểm toán nội bộ là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ không phải cho đối tác bên ngoài. Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty.

Lợi ích của kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Đây là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Thông qua công cụ này, ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt được các mục tiêu kinh doanh. Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây. Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường có báo cáo đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các công ty không có phòng kiểm toán nội bộ.

Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết các lợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi ích đó. Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững. Đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát. Kết quả là tam giác ba mục tiêu này không thực sự mở rộng ở cả ba góc trong quá trình tăng trưởng một cách đồng bộ. Thay vào đó là bị co méo ở hai góc kia, tăng trưởng tuy có đạt, nhưng hiệu quả và kiểm soát lại giảm sút hoặc không ngang tầm với sự tăng trưởng.

Để phát triển bền vững, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng cả ba mục tiêu trên. Đây là bài toán thực sự của quản trị. Doanh nghiệp nào xem nhẹ một trong ba mục tiêu trên thì sớm muộn cũng phải trả giá.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Thực tế kiểm toán nội bộ ở Việt Nam

Hiện nay khung pháp lý cao nhất cho hoạt động kiểm toán nội bộ là Luật Doanh nghiệp (cũ và mới). Khái niệm đầu tiên liên quan đến kiểm toán nội bộ quy định trong luật là ban kiểm soát do cổ đông bầu ra. Tuy nhiên, vai trò, chức năng, trách nhiệm của ban kiểm soát còn quá mơ hồ, làm công việc của thanh tra mang tính chất đột xuất, theo yêu cầu hơn là thường xuyên.

Các doanh nghiệp nhà nước có thêm một quy định, hướng dẫn về vấn đề kiểm toán nội bộ (Quyết định 832/TC/QQĐ/CĐKT năm 1997). Theo đó, phòng kiểm toán nội bộ vẫn báo cáo lên tổng giám đốc như một bộ phận thuộc sự điều hành của tổng giám đốc. Điều này làm giảm tính độc lập của phòng kiểm toán nội bộ, vì toàn bộ hệ thống quản lý trong doanh nghiệp (do ban giám đốc quy định) đều là đối tượng đánh giá của kiểm toán nội bộ. Trong khi đó, theo thông lệ phổ biến trên thế giới, phòng kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên cho ban kiểm soát hoặc hội đồng quản trị, tức là cấp cao hơn ban giám đốc.

Ở Việt Nam, trong những năm qua, ban kiểm soát ở các doanh nghiệp nhà nước và một số ngân hàng đã hoạt động nhưng chưa mang lại hiệu quả do vai trò, chức năng, trách nhiệm chưa rõ ràng và còn thiếu công cụ để thực hiện công tác giám sát.

Ở các loại hình công ty khác, hoạt động kiểm toán nội bộ ít nhiều đã hình thành khi các công ty thực hiện hệ thống quản lý chất lượng hay môi trường (ISO). Các công ty có được chứng chỉ ISO bắt buộc phải thực hiện đánh giá nội bộ (thực chất là kiểm toán nội bộ) ít nhất mỗi năm một lần về mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn ISO. Việc đánh giá này thường do một ban hay một bộ phận – thường gọi là ban ISO hay ban đảm bảo chất lượng – thực hiện và báo cáo lên tổng giám đốc. Tuy nhiên, do đánh giá nội bộ chỉ giới hạn ở việc tuân thủ các tiêu chuẩn của ISO (chủ yếu về mặt thủ tục, văn bản), nên hầu như không giúp cải tiến nhiều về hệ thống kiểm soát ở công ty. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp thực hiện ISO đã nhận ra điều này và đã thiết lập bộ phận đánh giá nội bộ ở cấp độ cao hơn, đầy đủ hơn và thực chất hơn.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Ở Việt Nam, việc xây dựng kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp chắc chắn sẽ phát triển trong thời gian tới cùng với sức phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự đòi hỏi của các nhà đầu tư về một hệ thống quản trị chuyên nghiệp sẽ buộc các doanh nghiệp phải chú ý xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ sao cho thật hiệu quả.

Xu hướng thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ cũng sẽ phát triển trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này đang ngày càng có đóng góp cao về doanh thu, lợi nhuận đối với công ty mẹ ở nước ngoài. Và rất nhiều công ty mẹ đó đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ hay ở các thị trường chứng khoán lớn khác trên thế giới. Do đó, dần dần, các công ty nước ngoài ở Việt Nam cũng buộc phải tuân thủ những quy định như Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ, tức là phải thực hiện kiểm toán nội bộ. Các công ty này sẽ ngày càng nhận được nhiều chương trình kiểm toán nội bộ do công ty mẹ thực hiện hoặc sẽ phải xây dựng bộ phận kiểm toán độc lập của riêng mình.

Làm sao xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ?

63.gifViệc xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp phải được thực hiện qua nhiều bước. Trước hết, doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu cụ thể và mục đích cụ thể của bộ phận này. Kế đó là phải xác định rõ ràng cơ cấu tổ chức, vai trò, chức năng và quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ, có thể bao gồm cả một văn kiện như điều lệ kiểm toán để đảm bảo đủ tính độc lập cho bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động. Việc tiếp theo quan trọng không kém là tuyển dụng kiểm toán viên trưởng, kiểm toán viên và đào tạo họ. Một điều cần lưu ý là nghiệp vụ kiểm toán nội bộ khác nhiều kiểm toán độc lập và đòi hỏi trình độ chuyên môn và kinh nghiệm rất cao. Sau cùng, bộ phận kiểm toán nội bộ cần thực hiện kiểm toán thí điểm và tốt nhất là có sự đánh giá của một công ty tư vấn độc lập, để rút kinh nghiệm trước khi bắt đầu xây dựng chiến lược và kế hoạch kiểm toán dài hạn.

Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá và tư vấn nội bộ trong doanh nghiệp, có tính chất độc lập và khách quan, nhằm đem lại giá trị và cải tiến công tác quản lý ở doanh nghiệp thông qua việc tăng cường kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro.
dịch vụ chữ ký số giá rẻ tại hải phòng Theo TCKT


[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page