Hạch toán chuyên sâu tài khoản 466 - nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ



TÀI KHOẢN 466 - NGUỒN KINH PHÍ ĐÃ HÌNH THÀNH TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ. Chỉ ghi tăng nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ khi đơn vị mua sắm TSCĐ, đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp, cải tạo, mở rộng được ghi tăng nguyên giá TSCĐ bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án được cấp từ NSNN hoặc nhận viện trợ, tài trợ, đưa vào sử dụng cho hoạt động sự nghiệp, dự án.

Ghi giảm nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ khi tính hao mòn TSCĐ hoặc nhượng bán, thanh lý, phát hiện thiếu TSCĐ khi kiểm kê, nộp trả Nhà nước hoặc điều chuyển TSCĐ cho đơn vị khác theo lệch của cấp trên, của Nhà nước.

KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 466 - NGUỒN KINH PHÍ ĐÃ HÌNH THÀNH TSCĐ

Bên Nợ:

Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ giảm, gồm:

- Nộp trả Nhà nước hoặc điều chuyển TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động dự án theo quyết định của cơ quan Nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền;

- Tính hao mòn TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án;

- Nhượng bán, thanh lý TSCĐ, phát hiện TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án;

- Giá trị còn lại của TSCĐ giảm do đánh giá lại.

Bên Có:

Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ tăng, gồm:

- Đầu tư mua sắm TSCĐ hoàn thành đưa vào sử dụng hoạt động sự nghiệp, dự án;

- Được cấp kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, được viện trợ không hoàn lại bằng TSCĐ;

- Giá trị còn lại của TSCĐ tăng do đánh giá lại.

Số dư bên Có:

Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ hiện có ở đơn vị.

PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN MỘT SỐ NGHIỆP VỤ KINH TẾ CHỦ YẾU

1. Trường hợp được Ngân sách Nhà nước, đơn vị cấp trên cấp kinh phí bằng TSCĐ hoặc dùng kinh phí sự nghiệp, dự án, viện trợ không hoàn lại để mua sắm TSCĐ, đầu tư XDCB, khi việc mua TSCĐ, đầu tư XDCB hoàn thành tài sản được đưa vào sử dụng cho hoạt động sự nghiệp, dự án, ghi:

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình

Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình

Có các TK 111, 112, 241, 331, 461,. . .

Đồng thời ghi:

Nợ TK 161 - Chi sự nghiệp

Có TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ.

Nếu rút dự toán chi sự nghiệp, dự án để mua TSCĐ, để đầu tư XDCB, đồng thời ghi đơn bên Có TK 008 - Dự toán chi sự nghiệp, dự án (Tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán).

2. Cuối kỳ kế toán năm tính hao mòn TSCĐ đầu tư, mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án, ghi:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Có TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ

Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ.

3. Khi nhượng bán, thanh lý TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án:

- Ghi giảm TSCĐ nhượng bán, thanh lý:

dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Có TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ (Giá trị còn lại)

Nợ TK 214 - Hao mòn TSCĐ (Giá trị hao mòn)

Có TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nguyên giá)

Có TK 213 - TSCĐ vô hình (Nguyên giá).

- Số thu, các khoản chi và chênh lệch thu, chi về nhượng bán, thanh lý TSCĐ đầu tư bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, được xử lý và hạch toán theo quyết định thanh lý và nhượng bán TSCĐ của cấp có thẩm quyền.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng
Theo Nice Accounting

[Read More...]


Hạch toán chuyên sâu tài khoản 641 - Chi phí bán hàng



I. Tài khoản 641 - Chi phí bán hàng

Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (Trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,. . .

Tài khoản 641 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí như: Chi phí nhân viên, vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, khấu hao TSCĐ; dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý từng ngành, từng doanh nghiệp, Tài khoản 641 có thể được mở thêm một số nội dung chi phí. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí bán hàng vào bên Nợ Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”.

II. Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 641 - Chi phí bán hàng

Bên Nợ:

Các chi phí phát sinh liên quan đến quá bán thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ.

Bên Có:

- Kết chuyển chi phí bán hàng vào Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh” để tính kết quả kinh doanh trong kỳ.

Tài khoản 641 không có số dư cuối kỳ.

Tài khoản 641 - Chi phí bán hàng, có 7 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 6411 - Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,. . . bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,. . .

- Tài khoản 6412 - Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ,. . . dùng cho bộ phận bán hàng.

- Tài khoản 6413 - Chí phí dụng cụ, đồ dùng: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc,. . .

- Tài khoản 6414 - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng,. . .

- Tài khoản 6415 - Chi phí bào hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá. Riêng chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp phản ánh ở TK 627 “Chi phí sản xuất chung” mà không phản ánh ở TK này.

- Tài khoản 6417 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu,. . .

- Tài khoản 6418 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng,. . .

hạch toán chi phí bán hàng
III. Phương pháp hạch toán kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu

1. Tính tiền lương, phụ cấp, tiền ăn giữa ca và tính, trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho nhân viên phục vụ trực tiếp cho quá trình bán các sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có các TK 334, 338,. . .

2. Giá trị vật liệu, dụng cụ phục vụ cho quá trình bán hàng, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có các TK 152, 153, 142, 224.

3. Trích khấu hao TSCĐ của bộ phận bán hàng, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ.

4. Chi phí điện, nước mua ngoài, chi phí thông tin (điện thoại, fax...), chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ có giá trị không lớn, được tính trực tiếp vào chi phí bán hàng, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

Có TK các TK 111, 112, 141, 331,. . .

5. Trường hợp sử dụng phương pháp trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ:

- Khi trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí bán hàng, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có TK 335 - Chi phí phải trả.

- Khi chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thực tế phát sinh, ghi:

Nợ TK 335 - Chi phí phải trả

Có các TK 331, 241, 111, 112, 152,. . .

6. Trường hợp chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn và liên quan đến việc bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong nhiều kỳ hạch toán, doanh nghiệp không sử dụng phương pháp trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ mà kế toán có thể sử dụng Tài khoản TK 242 “Chi phí trả trước dài hạn”.

Định kỳ, tính vào chi phí bán hàng từng phần chi phí sửa chữa lớn đã phát sinh, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn.

7. Hạch toán chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (Không bao gồm bảo hành công trình xây lắp):

7.1. Trường hợp doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng có kèm theo giấy bảo hành cửa chữa cho các hỏng hóc do lỗi sản xuất được phát hiện trong thời gian bảo hành sản phẩm, hàng hoá, doanh nghiệp phải xác định cho từng mức chi phí sửa chữa cho toàn bộ nghĩa vụ bảo hành:

- Khi xác định số dự phòng phải trả về chi phí sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hoá kế toán, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Có TK 352 - Dự phòng phải trả.

7.2. Cuối kỳ kế toán sau, doanh nghiệp phải tính, xác định số dự phòng phải trả về sửa chữa bảo hành sản phẩm, hàng hoá cần lập:

- Trường hợp số dự phòng phải trả cần lập ở kỳ kế toán này lớn hơn số dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, hàng hoá đã lập ở kỳ kế toán trước nhưng chưa sử dụng hết thì số chênh lệch được trích thêm ghi nhận vào chi phí, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (6415)

Có TK 352 - Dự phòng phải trả.

- Trường hợp số dự phòng phải trả cần lập ở kỳ kế toán này nhỏ hơn số dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, hàng hoá đã lập ở kỳ kế toán trước nhưng chưa sử dụng hết thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:

Nợ TK 352 - Dự phòng phải trả

Có TK 641 - Chi phí bán hàng (6415).

8. Đối với sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng nội bộ cho hoạt động bán hàng, căn cứ vào chứng từ liên quan, kế toán phản ánh doanh thu, thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng nội bộ:

- Nếu sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng nội bộ dùng vào hoạt động bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì không phải tính thuế GTGT, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (6412, 6413, 6417, 6418)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Ghi theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng xuất tiêu dùng nội bộ).

- Nếu sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ dùng vào hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng nội bộ tính vào chi phí bán hàng, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (6412, 6413, 6417, 6418)

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331).

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Ghi theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng xuất tiêu dùng nội bộ cộng (+) thuế GTGT).

9. Số tiền phải trả cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu về các khoản đã chi hộ liên quan đến hàng uỷ thác xuất khẩu và phí uỷ thác xuất khẩu, căn cứ các chứng từ liên quan, ghi:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 338 - Phải trả, phải nộp khác (3388)(Chi tiết cho từng đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu).

10. Hoa hồng bán hàng bên giao đại lý phải trả cho bên nhận đại lý, ghi:

Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng

Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 131 - Phải thu khách hàng.

11. Khi phát sinh các khoản ghi giảm chi phí bán hàng, ghi:
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng
Nợ các TK 111, 112,. . .

Có TK 641 - Chi phí bán hàng.

12. Cuối kỳ kế toán, kết chuyển chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 911 “Xác định kết quản kinh doanh”, ghi:

Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 641 - Chi phí bán hàng.


dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hoàng mai Theo Nice Accounting

[Read More...]


Giới thiệu hệ thống tài khoản loại 3 - Nợ phải trả



LOẠI TÀI KHOẢN 3 - NỢ PHẢI TRẢ

Loại tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác.

Nợ phải trả của doanh nghiệp gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

1. Nợ ngắn hạn: Là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường.

Nợ ngắn hạn gồm các khoản:

- Vay ngắn hạn;

- Khoản nợ dài hạn đến hạn trả;

- Các khoản tiền phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu;

- Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước;

- Tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng phải trả cho người lao động;

- Các khoản chi phí phải trả;

- Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn;

- Các khoản phải trả ngắn hạn khác.

2. Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm.

Nợ dài hạn gồm các khoản:

- Vay dài hạn cho đầu tư phát triển;

- Nợ dài hạn phải trả;

- Trái phiếu phát hành;

- Các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn;

- Thuế thu nhập hoãn lại phải trả;

- Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm;

- Dự phòng phải trả.

HẠCH TOÁN LOẠI TÀI KHOẢN NÀY CẦN TÔN TRỌNG

MỘT SỐ QUY ĐỊNH SAU

1. Các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp phải được theo dõi chi tiết số nợ phải trả, số nợ đã trả theo từng chủ nợ.

2. Các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp phải được phân loại thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn căn cứ vào thời hạn phải thanh toán của từng khoản nợ phải trả.

3. Nợ phải trả bằng vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được kế toán chi tiết cho từng chủ nợ, theo chỉ tiêu số lượng, giá trị theo giá qui định.

4. Cuối niên độ kế toán, số dư của các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ phải được đánh giá theo tỷ giá quy định.

5. Những chủ nợ mà doanh nghiệp có quan hệ giao dịch, mua hàng thường xuyên hoặc có số dư về nợ phải trả lớn, bộ phận kế toán phải kiểm tra, đối chiếu về tình hình công nợ đã phát sinh với từng khách hàng và định kỳ phải có xác nhận nợ bằng văn bản với các chủ nợ.

6. Các tài khoản nợ phải trả chủ yếu có số dư bên Có, nhưng trong quan hệ với từng chủ nợ, các Tài khoản 331, 333, 334, 338 có thể có số dư bên Nợ phản ánh số đã trả lớn hơn số phải trả. Cuối kỳ kế toán, khi lập báo cáo tài chính cho phép lấy số dư chi tiết của các tài khoản này để lên hai chỉ tiêu bên “Tài sản” và bên “Nguồn vốn” của Bảng Cân đối kế toán.

Loại Tài khoản Nợ phải trả có 16 tài khoản, chia thành 4 nhóm:

Nhóm Tài khoản 31 - Nợ ngắn hạn, có 2 tài khoản:

- Tài khoản 311 - Vay ngắn hạn;

- Tài khoản 315 - Nợ dài hạn đến hạn trả.

Nhóm Tài khoản 33 - Các khoản phải trả khác, có 7 tài khoản:

- Tài khoản 331 - Phải trả cho người bán;

- Tài khoản 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước;

- Tài khoản 334 - Phải trả người lao động;

- Tài khoản 335 - Chi phí phải trả;

- Tài khoản 336 - Phải trả nội bộ;

- Tài khoản 337 - Thanh toán theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng;

- Tài khoản 338 - Phải trả, phải nộp khác.

Nhóm Tài khoản 34 - Nợ dài hạn, có 5 tài khoản:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng - Tài khoản 341 - Vay dài hạn;

- Tài khoản 342 - Nợ dài hạn;

- Tài khoản 343 - Trái phiếu phát hành;

- Tài khoản 344 - Nhận ký quỹ, ký cược dài hạn;

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng - Tài khoản 347 - Thuế thu nhập hoãn lại phải trả.

Nhóm Tài khoản 35 - Dự phòng, có 2 tài khoản:

- Tài khoản 351 - Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm;

- Tài khoản 352 - Dự phòng phải trả.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng
Theo Nice Accounting

[Read More...]


Cần hiểu rõ về đăng kí hành nghề kế toán



Ông Bùi Văn Mai – Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán Bộ Tài chính đã trả lời phỏng vấn với lời khẳng định “Đăng ký hành nghề kế toán không phải là giấy phép con”

Có ý kiến cho rằng, Thông tư 72/2007/TT - BTC ngày 27/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc đăng ký và quản lý hành nghề kế toán (KT) đã "tái xuất một giấy phép con". ý kiến của ông về vấn đề này thế nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật KT thì "Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có quyền hành nghề KT". Như vậy, ngoài các DN được cung cấp dịch vụ KT thì cá nhân có đủ điều kiện cũng được hành nghề KT. Đây là một quy định hoàn toàn mới so với trước khi có Luật KT. Trước thời điểm Thông tư 72 có hiệu lực thi hành, Bộ Tài chính mới chỉ hướng dẫn thực hiện việc đăng ký và quản lý danh sách các DN kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề trong các DN kiểm toán. Riêng các DN dịch vụ KT và cá nhân kinh doanh dịch vụ KT thì chưa có quy định phải đăng ký hoạt động với Bộ Tài chính mà chỉ cần có đăng ký kinh doanh là được phép hoạt động.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 46 NĐ số 129/2004/NĐ-CP quy định: "Bộ TC quy định cụ thể việc đăng ký và quản lý danh sách DN và cá nhân hành nghề KT". Do vậy, việc ban hành Thông tư 72/2007/TT - BTC là dựa trên căn cứ pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 46 NĐ 129 nói trên.

Tại điểm 1.2, Thông tư 72 quy định "DN dịch vụ KT, cá nhân kinh doanh dịch vụ KT sau khi đã đăng ký hành nghề KT và có giấy xác nhận của Hội Nghề nghiệp theo quy định tại điểm 1.1". Quy định này nhằm giúp việc quản lý danh sách người hành nghề KT và DN dịch vụ KT được thống nhất theo yêu cầu của Chính phủ. Đây hoàn toàn không phải là một giấy phép con như có ý kiến đã nêu ra.

-  Vậy ông giải thích thế nào về quy định khi đăng ký hành nghề KT phải có ít nhất hai người có Chứng chỉ hành nghề KT hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên từ 2 năm trở lên?

Về quy định DN dịch vụ KT phải có ít nhất 2 người có Chứng chỉ hành nghề KT hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ TC cấp, trong đó giám đốc DN phải là người có chứng chỉ hành nghề KT hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên từ 2 năm trở lên là không trái với Nghị định 129 và Luật DN 2005.

Theo khoản 1 Điều 41 NĐ 129 có quy định: "Để thành lập DN dịch vụ KT phải có ít nhất 2 người có Chứng chỉ hành nghề KT, trong đó có một trong những người quản lý DN dịch vụ KT phải có Chứng chỉ hành nghề KT...". Quy định này của NĐ 129 phù hợp với Luật DN năm 1999 và NĐ 129 cũng không bắt buộc giám đốc DN dịch vụ KT phải có Chứng chỉ hành nghề KT.

Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 18 Luật DN 2005 thì hồ sơ thành lập DN kinh doanh có điều kiện bao giờ cũng phải có chứng chỉ hành nghề của GĐ (TGĐ). Kinh doanh dịch vụ KT là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và việc quy định tại TT 72 là thực hiện đúng tinh thần của Luật DN 2005. Mặt khác, tại tiết b khoản 1 Điều 15 NĐ 185/2004/ NĐ-CP ngày 4/11/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KT có quy định mức phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với trường hợp "Người đại diện theo pháp luật của DN kinh doanh dịch vụ KT không có chứng chỉ hành nghề KT".

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Do dịch vụ KT là dịch vụ có liên quan nhiều đến số liệu, thông tin tài chính của các tổ chức, DN. Những số liệu này được gửi tới các cơ quan và các đối tượng có lợi ích liên quan như các nhà đầu tư nên yêu cầu về độ tin cậy và minh bạch của thông tin là quan trọng và cần thiết. GĐ DN dịch vụ KT phải là người thông thạo các chính sách, chế độ liên quan đến tài chính, KT, thuế, phải có khả năng soát xét chất lượng dịch vụ do nhân viên thực hiện mới đảm bảo chất lượng dịch vụ KT cung cấp. Ngoài ra, do DN dịch vụ KT không chỉ cung cấp dịch vụ KT cho một loại ngành nghề nào mà cùng lúc có thể cung cấp dịch vụ KT cho nhiều loại hình DN khác... nên người soát xét cũng cần phải có kinh nghiệm hơn. Do vậy, quy định phải có 2 năm kinh nghiệm là điều kiện cần cho mỗi DN dịch vụ KT.

-  Vậy việc Bộ TC uỷ quyền cho Hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký và quản lý hành nghề đối với DN và cá nhân làm dịch vụ KT có trái luật, thưa ông?

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì Việc Bộ TC uỷ quyền cho Hội nghề nghiệp thực hiện việc đăng ký hành nghề đối với các DN và cá nhân làm dịch vụ KT theo Thông tư 72 và kiểm soát chất lượng dịch vụ KT, kiểm toán theo Quyết định 32/2007/ QĐ-BTC ngày 15/5/2007 không hề trái luật. Bởi theo Điều 44 NĐ 129 cũng đã quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hành nghề KT: Tuân thủ sự quản lý nghề nghiệp và kiểm soát chất lượng dịch vụ KT của Bộ TC hoặc của tổ chức nghề nghiệp KT được Bộ TC uỷ quyền. Mặt khác, việc kiểm soát chất lượng của Hội nghề nghiệp không phải thanh tra, kiểm tra như cơ quan nhà nước mà chỉ kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ theo quy chế đã được công bố công khai (quy chế ban hành kèm Quyết định 32/2007/QĐ - BTC ngày 15/5/2007). Việc chuyển giao này là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng của các dịch vụ KT, kiểm toán.

dịch vụ chữ ký số tại hải phòng  Xin cảm ơn ông!
Theo báo Diễn đàn doanh nghiệp

[Read More...]


Khái quát về lĩnh vực kế toán



Kế toán đơn giản là thông tin. Nhiệm vụ của kế toán viên là cung cấp thông tin cho những người sử dụng khác nhau như các cổ đông, ngân hàng đối tác, các nhân viên cao cấp để đưa ra các quyết sách kinh tế. Những người này sử dụng thông tin với các mục đích khác nhau.

Các cổ đông cần thông tin để xác định nên mua hay bán cổ phiếu, ngân hàng cần thông tin để đánh giá các khoản nợ của khách hàng, các nhà lănh đạo công ty cần thông tin để quyết định các hoạt động kinh doanh. Kế toán cũng được các cá nhân sử dụng nhằm theo dõi các khoản chi thu, nhằm xác định thời điểm hợp lý để đầu tư vào thị trường chứng khoán hay đầu tư mua bất động sản, và có thể nhằm xác định các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp. Vậy đó, kế toán tồn tại khắp nơi, trong mọi lĩnh vực.

Có thể thấy rằng thông tin kế toán dành cho hai bộ phận người sử dụng phân biệt. Thứ nhất là người sử dụng nội bộ, những người thuộc tổ chức công ty, sử dụng thông tin kế toán nhằm quản lý tổ chức và điều hành kinh doanh. Chẳng hạn như một giám đốc cần kiểm soát lượng tồn kho, xác định lỗ lãi, bảo đảm tài sản, lập ngân sách... Thứ hai là người sử dụng bên ngoài, những người không thuộc tổ chức công ty. Đó có thể là các cổ đông, là cơ quan thuế, là ngân hàng, các nhà phân tích tài chính, nhà cung cấp, khách hàng...

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Nói một cách khái quát, kế toán là một công cụ để nhận dạng, đo lường và truyền thông tin về các đối tượng kinh tế nhằm phục vụ cho việc đưa ra các quyết sách kinh tế.

Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mỳ, dê, quần áo... Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay.

Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice and Genoa. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Hệ thống kế toán kép được đưa ra ở Genoa làm cho việc lưu giữ các bản ghi có hệ thống hơn. Hệ thống này buộc các nghiệp vụ đơn phải được ghi 2 lần vào bên nợ (debit) và bên có (credit), được giới thiệu chính thức bởi Luca Pacioli trong cuốn Summa de Arithmetica, Geimetrica, Proportioni et Proportionalita năm 1494. Từ đó, ngành kế toán đã phát triển vượt bậc. Hệ thống kế toán kép đã trở thành nguyên tắc cơ bản cho thế giới kế toán ngày nay và Luca Pacioli được coi là cha đẻ của ngành kế toán. Về sau, có thêm các nghiên cứu khác như "How To Keep a Perfect AcCompte Of Debitour and Creditour" của James Peele năm 1553, "English System Of Book Keeping" của Edward Jones năm 1795.

Cho đến này, ý tưởng cơ bản của kế toán không thay đổi là bao so với các doanh nhân ở Genoa ngày ấy. Sự thay đổi lớn nằm ở các phương thức lưu bút toán. Máy tính và các phương tiện hiện đại khác đã giúp cho việc bút toán trở nên dễ dàng hơn và các thông tin về các đối tượng kinh tế cũng trở nên kịp thời và đáng tin cậy hơn.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo Tạp chí kế toán

[Read More...]


Làm thế nào để giải quyết nợ xấu?



Cách tốt nhất để xử lý nợ xấu là đừng để nó xảy ra. Nhưng nếu nó đã xảy ra, doanh nghiệp vẫn có công cụ để xử lý.

Kinh tế suy thoái không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà còn làm gia tăng nợ xấu trong doanh nghiệp. Thống kê mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, chỉ riêng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng năm 2008 đã vào khoảng 43.500 tỷ đồng. Nếu tính cả số nợ giữa các doanh nghiệp với nhau thì con số nợ xấu còn lớn hơn nhiều lần.

Vì thế, khi tất cả các dự báo về kinh tế năm 2009 đưa ra đều thống nhất rằng tình hình sẽ tiếp tục khó khăn thì nợ xấu đã trở thành mối lo hàng đầu đối với doanh nghiệp. Nợ xấu có thể đẩy doanh nghiệp đến chỗ phá sản, ngân hàng mất tài sản và quan trọng hơn là gây ra xáo trộn trong nền kinh tế. Vậy, xử lý nợ xấu như thế nào?

Nợ xấu xuất phát từ nhiều nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan. Nguyên nhân lớn nhất là năm qua nhiều đơn vị kinh doanh thua lỗ, dẫn đến việc gặp khó khăn về dòng tiền hoặc mất khả năng thanh toán. Vì thế, các đối tác có quan hệ làm ăn với những doanh nghiệp này bỗng chốc phải gánh thêm phần nợ khó thu.

Ngoài ra, đa số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mua bán chủ yếu dựa vào uy tín, ít dùng đến các hợp đồng kinh tế. Vì thế, nhiều doanh nghiệp bị khách hàng giam nợ vô thời hạn nhưng không có cơ sở pháp lý để... đòi. Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng, nhiều doanh nghiệp đã đưa ra chính sách bán chịu khá ưu đãi, thậm chí dễ dãi. Điều này càng làm tăng khả năng phát sinh khoản nợ khó đòi và rủi ro không thu hồi được nợ.

Xử lý nợ xấu như thế nào là bài toán không dễ, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, doanh nghiệp có thể khắc phục tình trạng nợ xấu nếu thực hiện một số phương cách sau.

Trích lập dự phòng: Khi phát sinh các khoản phải thu khó đòi, công ty phải tiến hành trích lập dự phòng. Về cơ bản, trích lập dự phòng sẽ giúp doanh nghiệp bù đắp khoản lỗ do không thu được nợ, ngăn chặn nợ xấu có thể xuất hiện. Nguyên tắc để trích lập dự phòng khoản phải thu khó đòi đã được quy định cụ thể trong Chuẩn mực Kế toán quốc tế 37 (IAS 37), hoặc trong thông tư số 13/2006/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 27/2/2006. Thế nhưng, cho đến nay, rất ít doanh nghiệp chịu trích lập dự phòng các khoản phải thu, vì điều này sẽ làm tăng chi phí, ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận. Tuy nhiên, trong lúc này trích lập dự phòng là việc cần làm.

TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG CÁC KHOẢN PHẢI THU LÀ VIỆC ĐẦU TIÊN DOANH NGHIỆP CẦN LÀM ĐỂ QUẢN LÝ NỢ XẤU.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hà nam Tính lãi suất trên nợ quá hạn: Đối với những khách hàng “chây lì”, doanh nghiệp có thể áp dụng lãi suất trên khoản nợ khó đòi, tương đương lãi suất cho vay của ngân hàng. Đây là cách để buộc khách hàng có trách nhiệm hơn với khoản nợ, cũng như giúp doanh nghiệp bớt đi một phần chi phí nợ.

Chiết khấu nợ khó đòi: Nếu khách hàng thực sự gặp khó khăn trong khâu thanh toán, chiết khấu nợ là giải pháp cần thiết. Đây là hình thức giảm giá trị khoản nợ cho khách hàng, tạo điều kiện để khách hàng có thể thanh toán nợ dứt điểm. Giá trị chiết khấu tùy thỏa thuận giữa hai bên. Dù có thể chịu thiệt chút đỉnh nhưng đổi lại doanh nghiệp sẽ sớm cắt bỏ được “cục nợ” dai dẳng.

Tìm kiếm dịch vụ hỗ trợ: Đối với khách hàng không chịu thanh toán nợ, hoặc cố tình trì hoãn, doanh nghiệp có thể nhờ cậy đến công ty thu nợ hoặc luật sư chuyên giải quyết công nợ. Những người này sẽ cố gắng thu hồi những khoản phải thu cho doanh nghiệp thông qua đàm phán, thương lượng hoặc kiện tụng. Nhưng thực hiện các giải pháp này doanh nghiệp thường mất nhiều thời gian và chi phí.

Ngoài ra, để xử lý nợ, doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, có thể sử dụng dịch vụ bao thanh toán (factoring) để được chiết khấu, có khi lên đến 80% giá trị khoản phải thu.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình
Doanh nghiệp cũng có thể xử lý nợ xấu thông qua việc bán nợ cho các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chỉ có một đơn vị duy nhất thực hiện dịch vụ này là Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cổ phần hoặc tư nhân chỉ có thể hy vọng tìm đến giải pháp này trong tương lai.

Chặt chẽ trong quản lý nợ: Tuy được nhắc đến sau nhưng đây là bước doanh nghiệp phải thực hiện trước hết, một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh. Cách tốt nhất để quản lý nợ xấu là đừng để nó xảy ra. Doanh nghiệp phải nắm rõ danh mục nợ phải thu và có kế hoạch thu nợ rõ ràng, không để phát sinh nợ khó đòi. Muốn vậy, doanh nghiệp phải kiện toàn bộ máy kế toán, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán quản trị. Đặc biệt, doanh nghiệp cần tăng cường kiểm tra các quan hệ giao dịch thường xuyên có số dư phải thu lớn.
dịch vụ chữ ký số tại thanh xuân Theo VACPA
[Read More...]


Doanh nghiệp "quảng bá" hình ảnh bằng báo cáo diễn giải



Hiện nay, thông tin là vấn đề mà nhiều nhà đầu tư, đặc biệt quan tâm nhưng luôn thường trực mối lo lắng về độ tin cậy của thông tin mà nhà đầu tư quan tâm không chỉ là thông tin tài chính mà cả thông tin phi tài chính cũng vô cùng quan trọng và trong nhiều trường hợp đó lại là nhân tố quyết định để đầu tư vào doanh nghiệp.

Chính vì vậy, hiện nay rất nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới đã rất nghiêm túc trong việc đầu tư và công bố thông tin về mình như một công cụ để quảng bá mà không tốn kém chi phí qua các “báo cáo diễn giải”. Tuy nhiên, ở Việt Nam các công ty còn chưa thực sự chú ý đến vấn đề này! Với bài viết này, tác giả mong muốn sẽ gửi đến những người quan tâm một công cụ để quảng bá cho đơn vị mình mà không hề tốn chi phí như những kênh quảng cáo khác.

Khi đọc báo cáo thường niên của một doanh nghiệp, bạn sẽ phải ghi chú cả “nửa trước” và “nửa sau” của nó mà thông thường cả hai nội dung này lại nằm trọn vẹn trong nhiều tài liệu khác nhau, nội dung đầy đủ của thông tin trong các con số và các tài khoản lại nằm trong mặt diễn giải của nó. Một nửa những thông tin được trình bày thông qua các số liệu tài chính tưởng như khá khô khan, trong khi một nửa thông tin còn lại nằm trong báo cáo diễn giải – cơ hội của các doanh nghiệp kể về câu chuyện của chính họ bằng ngôn từ của họ để cung cấp các thông tin phi tài chính có thể sẽ giúp cổ đông ra các quyết định kinh doanh. Báo cáo tài chính giải thích rõ ràng các yếu tố tài chính, nhưng có những vấn đề liên quan đến yếu tố phát triển bền vững của công ty rất hữu ích thì lại nằm trong báo cáo diễn giải như: sự tăng trưởng như thế nào, các yêu cầu liên quan đến quy định của luật pháp khổng lồ và phức tạp,…

Vậy báo cáo diễn giải (narrative reporting) là gì? Thuật ngữ “báo cáo diễn giải” được sử dụng để mô tả các thông tin phi tài chính nằm trong các báo cáo của công ty để cung cấp một bức tranh rộng hơn và có ý nghĩa hơn về hoạt động kinh doanh, vị trí trên thị trường, chiến lược, khả năng thực hiện và các định hướng tương lai của một công ty. Báo cáo diễn giải gồm tất cả thông tin công bố trong báo cáo thường niên ngoại trừ các bản báo cáo tài chính được kiểm toán và báo cáo kiểm toán.

Trong những năm gần đây, có khá nhiều sự chắp vá và làm qua loa trong việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán về trình bày báo cáo tài chính. Nhưng trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình hiện nay của các nước vẫn quá thiên về các thông tin quá khứ. Nói một cách dễ hiểu hơn, các công ty vẫn chưa truyển tải cho những nhà phân tích, nhà đầu tư thông tin mà họ cần. Điều này là căn nguyên cho những tranh luận xung quanh một mô hình báo cáo trong những năm gần đây và là lý do của sự gia tăng nhu cầu về báo cáo diễn giải để giải thích một cách tốt hơn về chất lượng và sự ổn định trong hoạt động của các công ty. Tuy nhiên, các công ty lại thường hay phàn nàn rằng thực tế họ chỉ vừa có đủ thời gian để thực hiện công việc kinh doanh của họ bởi hàng núi những quy định và luật lệ liên quan đến việc lập báo cáo tài chính. Dưới áp lực như vậy thì cũng không ngạc nhiên khi các công ty thường chỉ đáp ứng một cách hạn chế những nhu cầu cho một báo cáo diễn giải. Tuy nhiên, thực tế thì mọi người lại rất quan tâm đến việc doanh nghiệp hoạt động như thế nào cũng như báo cáo ra làm sao? Vì vậy, người nắm bắt được những nhu cầu này sẽ có cơ hội phát triển hơn hẳn những người muốn né tránh chúng. Cơ hội cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh thực tế của mình thông qua chính những báo cáo diễn giải có chất lượng mà doanh nghiệp “gửi” đến cho khách hàng.

Báo cáo diễn giải giống như một loại sản phẩm để trợ giúp cho việc tạo nên một bức tranh khác biệt hơn, hấp dẫn hơn và tăng lợi thế thương mại về doanh nghiệp mà làm cho các nhà đầu tư hiểu hơn và cải thiện được mối quan hệ tốt đẹp hơn với các cổ đông của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc xây dựng nên các thông tin này cũng góp phần nâng cao hiệu quả, năng lực hoạt động và quản lý của Ban giám đốc doanh nghiệp.

Những quy định và hướng dẫn về lập báo cáo diễn giải

Theo Ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế, mục đích quan trọng nhất của báo cáo diễn giải là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng.

Trong hướng dẫn về lập báo cáo diễn giải của IASB (International Accounting Standards Board) cũng chỉ nêu ra các doanh nghiệp “nên” trình bày như thế nào, chứ không đưa ra các quy định bắt buộc phải trình bày các báo cáo diễn giải. Những quy định và hướng dẫn khuyến khích các công ty chỉ đưa ra những thông tin nào mà họ tin rằng có thể quản lý được hoạt động kinh doanh của họ phụ thuộc vào thực tế, tình hình của doanh nghiệp và giải thích rõ ràng nội dung của những yếu tố nên có trong một báo cáo diễn giải. Theo đó, báo cáo diễn giải nên bao gồm các thông tin về đặc điểm kinh doanh, mục tiêu quản lý và chiến lược để đạt được các mục tiêu đó; những nguồn lực quan trọng, rủi ro và các mối quan hệ quan trọng nhất của doanh nghiệp; kết quả hoạt động và triển vọng phát triển của đơn vị; những nhân tố và thước đo kết quả hoạt động được ban quản trị sử dụng khi đánh giá các mục tiêu cần đạt được của doanh nghiệp. Một vài thông tin này có thể được trình bày, nhưng không cần thiết phải nằm trong báo cáo thường niên, trong khi một số thông tin khác hiện tại chỉ được sử dụng nội bộ chứ không thông báo ra bên ngoài. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp sẽ phải đánh giá liệu các thông tin đang xem xét đó có đủ điều kiện để công bố ra bên ngoài hay không. Ở mức độ cao nhất, việc rà soát lại những thông tin được thiết lập với mục đích có thể hiểu được bước phát triển chiến lược từ đó sẽ nêu bật lên những thông tin đang bị bỏ lỡ. Khi đó, công ty cần quan tâm cách thức công bố thông tin bị thiếu và cách thức để cải thiện đặc điểm và chất lượng của thông tin được sử dụng để quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, những quy định về lập báo cáo diễn giải đối với các doanh nghiệp mới thể hiện ở Thông tư 09/2010/TT-BTC, ngày 15/01/2010 và mới đây là Thông tư 52/2012/TT-BTC thay thế cho thông tư 09/2010/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/6/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, tuy nhiên những quy định ở đây vẫn còn chung chung, chưa cụ thể và mới chỉ áp dụng đối với các công ty đại chúng. Theo đó, các công ty đại chúng tại Việt Nam phải công bố các thông tin thường xuyên, định kỳ, thông tin bất thường, thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn, giao dịch cổ phiếu quỹ, giao dịch cổ phiếu của cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng, giao dịch chào mua công khai, chào bán chứng khoán và tiến độ sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán. Đối với báo cáo thường niên thì mới chỉ quy định các nội dung bắt buộc như: lịch sử hình thành công ty, báo cáo của Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty về tình hình hoạt động của công ty, báo cáo về tình hình quản trị công ty, báo cáo của Ban Giám đốc, báo cáo tài chính, bản giải trình báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán, các công ty liên quan, tổ chức và nhân sự, thông tin cổ đông/các thành viên góp vốn và quản trị công ty. Với những quy định trong Thông tư 52 có đề cập đến các báo cáo về định hướng phát triển cho công ty và các rủi ro doanh nghiệp có thể và đang gặp phải, tuy nhiên hướng dẫn còn chung chung, chưa chi tiết cùng với sự hiểu biết của các nhà đầu tư còn chưa đầy đủ, rõ ràng bởi mức độ phát triển của thị trường còn chưa cao, vẫn mang tính nhỏ lẻ cùng thời gian và chi phí cho việc lập các báo cáo thông tin ra bên ngoài đối lập nhau, các thông tin dùng để so sánh còn chưa đủ độ tin cậy nên thực trạng về lập và trình bày báo cáo diễn giải thực sự có ý nghĩa tại Việt Nam hiện nay vẫn còn là một khó khăn.

Những công ty có định hướng tương lai luôn sẵn sàng tìm kiếm cách thức để chuyển những nhu cầu từ gánh nặng của công ty thành một cơ hội. Tuy nhiên, nếu những cơ hội này không được nắm lấy và quy trình xử lý không được lên kế hoạch một cách đầy đủ thì doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải rủi ro làm hủy hoại danh tiếng của công ty, của các cổ đông, thị phần và khả năng cạnh tranh của công ty.

Các công ty đang đối mặt với sự gia tăng nhu cầu về báo cáo diễn giải và họ càng sớm bắt tay vào chuẩn bị thì vị trí của họ càng tốt hơn, họ sẽ tránh được những cạm bẫy và thu về được nhiều lợi ích – vì vậy hãy hành động ngay từ bây giờ và thu được nhiều ích lợi từ việc nắm bắt lấy cơ hội.

Rủi ro xảy ra khi chúng ta bỏ quên nhu cầu, lợi ích sẽ đến nếu nắm bắt được chúng. Các công ty sẵn sàng cung cấp những thông tin thừa, không cần thiết trên báo cáo thường niên, trên các phương tiện thông tin đại chúng khác và sắp xếp những thông tin này với các mức độ chi tiết khác nhau trên thông tin diễn giải và thông tin theo ngữ cảnh như thông tin thị trường, thông tin về chiến lược kinh doanh và trách nhiệm xã hội của các công ty. Hơn nữa, bằng việc khuyến khích các công ty cung cấp thông tin một cách đều đặn được sử dụng để nắm bắt được tình hình kinh doanh của họ, các hướng dẫn và quy định ngụ ý rằng thông tin nên là các thông tin có thể sử dụng được. Chắc chắn rằng với tất cả áp lực khác – báo cáo và các công việc khác – mà các công ty phải thực hiện, câu hỏi đặt ra rằng họ có thể đưa ra những lời nói đãi bôi một số yêu cầu cho báo cáo diễn giải hay không? Những rủi ro và lợi ích chỉ ra dưới đây sẽ gợi ý họ không nên làm vậy.

Rủi ro
Các yêu cầu trên làm phát sinh các rủi ro cho các công ty. Tuy nhiên, điều lớn nhất trong việc họ nói dối các thông tin chính là sự thất bại trong lập kế hoạch một cách phù hợp và trách nhiệm của họ dẫn đến kết quả là sự thiệt hại trong dài hạn đến các nhà đầu tư, các cổ đông, niềm tin của công chúng, thị phần và sau cùng là vị thế cạnh tranh của họ trên thị trường.

Những lỗ hổng thông tin có thể bị coi như quá muộn trong quy trình xử lý

Việc cân nhắc đến nội dung trên biên bản cuộc họp gần nhất trong quy trình lập báo cáo có thể nêu bật lỗ hổng thông tin mà nó không được đưa vào trong khoảng thời gian thích hợp. Thâm chí nếu nội dung của một cuộc họp của công ty được đưa ra, nó có thể tạo ra tác động trong việc nhấn mạnh điểm yếu chiến lược và trong hoạt động kinh doanh mà có thể bị nhận ra và Đối thủ cạnh tranh có thể nhận được thời cơ thuận lợi đầu tiên Thông điệp của thông tin và báo cáo diễn giải sẽ mở ra những lĩnh vực mới. Sự thất bại trong việc vẽ nên một bức tranh có sức thuyết phục sẽ phô ra cho các công ty khác về khả năng cạnh tranh thiếu sức thuyết phục và sự nghi ngờ từ các nhà đầu tư và những người có sự quan tâm, theo dõi về khả năng hoạt động của công ty.

Nếu những đối thủ cạnh tranh nắm được sự thay đổi và cơ hội đó, họ sẽ có thể hình thành thêm thông tin đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư và người quan tâm. Các công ty sẽ được khuyến khích, chứ không phải là bị ép buộc, cung cấp những thông tin tương tự liên quan đến liệu có một mô hình kinh doanh phù hợp tại các công ty không.
Lợi ích Trong khi báo cáo diễn giải có thể đưa ra một số rủi ro, nhưng ngược lại cũng có rất nhiều lợi ích cho các công ty mà họ thực sự nắm bắt được tinh thần của các nhu cầu về báo cáo diễn giải như một xu hướng tất yếu hiện nay.

Gia tăng sự am hiểu tình hình kinh doanh, cải thiện được năng lực quản lý và hoạt động hiệu quả của Ban quản trị doanh nghiệp. Với quá trình đáp ứng những nhu cầu trên có thể tạo cơ hội cho ban quản trị đặt ra vấn đề về chiều sâu và chiều rộng của các thông tin mà họ sử dụng, và kết quả sẽ đánh giá được liệu trong một thời gian hạn chế của một cuộc họp hội đồng quản trị có nên công bố thông tin ra bên ngoài hay không? Có bao nhiêu ban giám đốc thường được đánh giá hoạt động cao mà đi ngược với số liệu tài chính truyền thống và bao nhiêu thời gian được giành ra cho các chiến lược và hoạt động sáng tạo có giá trị? Vượt qua trở ngại thời gian, thách thức trong việc đáp ứng những nhu cầu trên sẽ cung cấp cho Ban Quản trị một bức tranh đầy thuyết phục về hoạt động của công ty, với một cái nhìn mạnh mẽ và vững chắc hơn về tình hình kinh doanh.
Gia tăng sự am hiểu của nhà đầu tư và cải thiện mối quan hệ của doanh nghiệp với những cổ đông chính. Một công ty với báo cáo diễn giải hiệu quả sẽ mang đến cho các nhà đầu tư, cổ đông những cái nhìn sâu sắc, rõ ràng hơn về giá trị đích thực của doanh nghiệp đó, và nhấn mạnh một cách rõ ràng tại sao chiến lược được chọn của doanh nghiệp là đúng đắn để họ có thể nắm bắt được xu hướng kinh doanh và định hướng cho tương lai. Điều này vô hình chung tạo cho những người sử dụng thông tin rõ ràng hơn về một bức tranh mở nhưng đầy đủ, dễ hiểu hơn và nó đánh giá được năng lực của Ban Quản trị doanh nghiệp.

Một số những ưu điểm khác chính là công ty sẽ nâng cao được danh tiếng và thị phần hơn, giảm chi phí vốn mà vẫn thu hút, duy trì khả năng, năng lực hoạt động tốt nhất của nó. Việc lập báo cáo của các công ty vẫn phải luôn thực hiện qua các kỳ với những thay đổi không dự đoán được. Bởi các khoản thu nhập được báo cáo ra bên ngoài ngày càng trở nên không ổn định, nên những hướng dẫn về quản lý công ty cũng trở nên mở rộng hơn, và chỉ số đầu tư mang ý nghĩa xã hội đang trở nên thách thức hơn, thì việc thực hiện báo cáo diễn giải và thông tin cụ thể thống nhất qua thời gian sẽ giúp công ty có một hành lang hay một cái khung để cung cấp những cái nhìn rõ ràng nhất và hiệu quả nhất về tình hình hoạt động của nó.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Xét nội bộ công ty, thách thức trong việc đối chiếu một hệ thống thông tin diễn giải và thông tin đặc thù mạch lạc, rõ ràng với cơ hội để đánh giá lại các mặt hoạt động của các thông tin như thế nào chính là cầu nối công ty với không những thế giới bên ngoài doanh nghiệp như các thông điệp đã được đưa ra có chủ ý mà còn giảm bớt khá nhiều chi phí phát sinh liên quan đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau như nhà đầu tư, các phương tiện truyền thông, mối quan hệ với các nhà đầu tư, báo cáo về môi trường và xã hội, chính sách với người lao động, v.v…

Nếu đọc các báo cáo diễn giải của các công ty lớn trên thế giới chúng ta sẽ thấy thông tin họ đưa ra khá đầy đủ, ngoài những nội dung cơ bản như trên, các báo cáo này còn tập trung khá nhiều cho việc phân tích và chiến lược hoạt động trong tương lai bởi báo cáo diễn giải chính là cơ hội quảng bá, tạo dựng uy tín của các doanh nghiệp bởi hầu như những nhà đầu tư nào quan tâm đến doanh nghiệp họ đều phải đọc các thông tin trên, đó cũng là một phương tiện truyền thông hiệu quả cho các mối quan hệ, nguồn lực, rủi ro trong cả hiện tại và tương lai mà chi phí cho kênh quảng bá này lại không hề cao so với các phương tiện quảng bá khác.

dịch vụ chữ ký số tại hải dương Và thực tế ở Việt Nam, qua việc phân tích báo cáo thường niên của một số doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, đặc biệt khi nghiên cứu báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết được bình chọn báo cáo thường niên tốt nhất, tác giả nhận thấy hầu hết báo cáo của các doanh nghiệp này đã được đầu tư, thiết kế khá kỹ lưỡng và đã có những phân tích về kết quả và chiến lược hoạt động trong tương lai. Điều này chứng tỏ, các doanh nghiệp Việt Nam đã dần dần có được sự hiểu biết sâu sắc hơn, đã nắm bắt được xu hướng phát triển tất yếu trong việc minh bạch hóa các thông tin, đó cũng chính là cơ hội giúp họ thu hút được những nhà đầu tư đầy tiềm năng.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì Theo VACPA
[Read More...]


Cổ phiếu quỹ không phải là tài sản của doanh nghiệp



Theo chuyên gia Huy Nam, cổ phiếu quỹ là thứ vô giá trị (hiểu theo nghĩa vật chất) và có thể được “vứt đi”. Chia cổ tứ bằng cổ phiếu quỹ là sự ngộ nhận.

Thông tin CTCP Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) được phép dùng cổ phiếu quỹ để chia cổ tức đã được báo chí đặt thành vấn đề nghiêm túc. Tuy có lúng túng về “hạch toán và điều chỉnh giá giao dịch”, nhưng hầu hết ý kiến phản hồi về cách làm này từ giới hữu trách, nhà điều hành và chuyên gia đều cho là được, chẳng vướng gì, thế giới họ cũng làm. Thậm chí, có người khen đây là cách tốt để cổ đông lớn tích tụ sở hữu. Thật đáng tiếc…

Cổ phiếu quỹ không phải là tài sản của doanh nghiệp

Cổ phiếu quỹ là cái gì mà có thể đem chia? Nếu lý lẽ “công ty bỏ tiền ra mua cổ phiếu quỹ thì đó là tài sản của công ty” đã in sâu trong cách nghĩ của nhiều người, thì nay có lẽ cũng ít ai ngờ rằng, suy nghĩ đó chỉ là ảo giác. Việc “lấy tài sản đó để trả cổ tức cho cổ đông” nếu đang được cho là bình thường, thì đó có thể là sự nhầm lẫn chết người.

Nhầm lẫn vì ta tưởng cổ phiếu quỹ là cái gì “sờ’ được, thì thực ra đó chỉ là hình, là bóng, là cái vỏ trống không và đáng nói hơn, cho dù bút tích trong sổ sách có ghi, nó cũng không phải là tài sản của doanh nghiệp. Để làm rõ điều cốt tử này, thiết nghĩ, ta cần lùi lại một chút để biết thật chính xác cổ phiếu quỹ là gì và để làm gì, đặc điểm vận động của nó trong doanh nghiệp cổ phần ra sao, cách người ta sử dụng và/hoặc xử lý nó thế nào...

Thế nhưng, điều cần ghi nhận trước tiên là hoạt động mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp (buyback) nói chung, chứ không hẳn là cổ phiếu quỹ (treasury shares). Cổ phiếu quỹ chỉ là phần nổi của vấn đề. doanh nghiệp mua lại cổ phiếu của mình có thể sẽ có các quyết định khác nhau: hủy ngay, giữ để bán lại (reissue) hoặc sẽ hủy một thời gian sau đó. Trường hợp cổ phiếu được mua lại và hủy ngay thì đó không phải là cổ phiếu quỹ. Tuy nhiên, kể cả khi không hủy ngay mà để làm cổ phiếu quỹ (hai cách sau), thì tất cả các giao dịch này đều làm cho vốn chủ sở hữu (shareholders’equity) giảm xuống. Cách đầu giảm vốn dứt khoát và vĩnh viễn, cách sau là giảm tạm thời. Nói cách khác, việc doanh nghiệp mua lại cổ phiếu đã phát hành của chính mình thực chất là việc hoàn vốn cho cổ đông, là chuộc lại và triệt tiêu một lượng cổ phần đã bán ra để giảm “nghĩa vụ”, là đưa một lượng cổ phần, tức vốn, về trạng thái “ngủ” (tùy cách hiểu). Việc này có thể thực hiện bằng hình thức chào mua bất kỳ trên thị trường (mua ngẫu nhiên) hoặc mua lại từ tất cả cổ đông theo một tỷ lệ.

Có một số lý do khiến doanh nghiệp mua lại cổ phiếu của chính mình. Đó có thể là do doanh nghiệp dư tiền và tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng hiệu quả, nên chọn cách dùng tiền đó để rút bớt số cổ phần đang lưu hành nhằm tăng giá trị thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS).

Hoặc doanh nghiệp có tiền và tin rằng, cổ phiếu của mình đang bị thị trường định thấp hơn giá tính toán, nên việc mua lại sẽ vừa làm lợi cho cổ đông (giá trị cổ phần tăng), vừa có lợi cho doanh nghiệp nếu sau này bán lại với giá cao hơn giá vốn đã mua (nhưng lợi đó không phải là lợi nhuận).

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tính toán sai dẫn đến việc mua với giá cao, sau đó giá xuống thấp, thì sẽ “thiệt đơn, hại kép” - đây có thể là khoản lỗ thực “cắn” vào lợi nhuận.

Việc mua lại cũng có thể là để tái cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp và đây là cách làm không xa lạ với doanh nghiệp tại các nước phát triển. Theo đó, với một thị trường vốn vay rẻ, doanh nghiệp có thể vay nợ và dùng nợ này để mua lại cổ phần của mình, nhằm mục đích thay thế (để giảm bớt) nguồn vốn chủ sở hữu. Trường hợp này, lượng cổ phiếu được mua lại sẽ bị hủy ngay lập tức và như vậy, không phát sinh CP quỹ.

Rõ hơn, cổ phiếu quỹ là loại bị công ty thoái vốn, nhưng được giữ lại để có điều kiện huy động về sau. Việc giữ lại này nôm na gọi là lưu kho, được xếp chung với các cổ phiếu được phép phát hành khác nhưng chưa phát hành (nếu có).

Gọi lưu kho (treasury) chỉ là để phân biệt với việc hủy ngay, chứ thực tế cổ phiếu quỹ chính là loại được phép phát hành nhưng chưa phát hành và quan trọng hơn, nó chưa hiện thực (chưa phải là chứng khoán). Vả lại, cũng không loại trừ nó sẽ bị loại bỏ để giảm vốn vĩnh viễn nếu có một quyết định như vậy của ĐHCĐ. Vậy thì làm sao ta có thể lấy cái không có để mà chia cổ tức được?

Cổ phiếu quỹ là thứ vô giá trị

Về tài chính, theo cách hiểu và cách làm của thế giới, việc mua lại cổ phiếu quỹ sẽ làm giảm một khoản tiền mặt (cash) bằng với giá vốn đã bỏ ra, đồng thời vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm một khoản tương ứng.

Để các nhà đầu tư hiểu đúng khoản giảm này là do mua lại cổ phiếu, chứ không phải là khoản nợ hay lỗ, doanh nghiệp cần ghi nhận thật rõ trên bảng cân đối kế toán bút tích cổ phiếu quỹ một khoản âm (-) ở dưới mục vốn chủ sở hữu.

Do bản chất của hoạt động mua lại cổ phiếu nói chung (stock repurchase) và mua cổ phiếu quỹ nói riêng chỉ có thể là việc giảm vốn (hay tái cơ cấu nguồn vốn), thế giới người ta không phân biệt nguồn tiền dùng để mua cổ phiếu quỹ là gì như quy định ở ta (là vốn thặng dư hay lợi nhuận giữ lại), thay vào đó, cứ hễ mua lại cổ phiếu là ghi giảm tiền mặt (tiền nào không cần biết) đồng thời với giảm nguồn vốn chủ sở hữu.

Mua cổ phiếu quỹ cũng không thể là cách làm tùy tiện. Luật lệ nhiều nước (và nhiều tiểu bang của Mỹ) đặt ra giới hạn lượng cổ phiếu một công ty được phép mua lại cùng với thời gian được nắm giữ. Vì ngoài ý nghĩa tích cực, người ta phòng ngừa việc tuồn nguồn lực (cụ thể là tiền) ra khỏi doanh nghiệp với ý đồ tiêu cực, gây nguy hại cho quyền lợi cổ đông nhỏ và các chủ nợ, là những đối tượng được luật pháp quan tâm bảo vệ. Ở Anh, hoạt động mua và giữ cổ phiếu quỹ bị cấm dài cho đến năm 1993 mới được phép.

Về “sáng kiến” chia cổ tức bằng cổ phiếu quỹ ở ta, trong nhiều lý lẽ được đưa ra có nội dung “chia bằng cổ phiếu quỹ hay bán cổ phiếu quỹ lấy tiền để chia thì cách nào cũng được”. Nếu đây được cho là chuyện bình thường và được nhân lên đại trà sẽ là điều đáng tiếc. Tại sao? Vì như đã nói ở trên, cổ phiếu quỹ là cái vỏ không thì lấy gì để trả? Còn nếu bán cổ phiếu quỹ lấy tiền để trả thì khác nào ta tự “cắn vào đuôi” mình. Bởi lẽ, khi bán cổ phiếu thì khoản thu sẽ được đưa vào nguồn vốn chủ sở hữu, vậy thì làm sao có thể lấy vốn huy động để trả cổ tức được?

Có người còn cho cách chia cổ tức này giống như việc “chia cổ tức bằng cổ phiếu bình thường, nhưng có nguồn từ cổ phiếu quỹ và có thể đi tắt với các bút tích bù trừ cho đơn giản”. Nghe có vẻ nghiệp vụ, nhưng thực ra đây là điều không tưởng, vì đã là cổ phiếu quỹ thì làm gì có “nguồn” để mà chia? Tóm lại, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu quỹ là sự ngộ nhận.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Có thể nói, cổ phiếu quỹ là thứ vô giá trị (hiểu theo nghĩa vật chất) và có thể được “vứt đi”. Nếu cổ phiếu quỹ là thứ gì đáng giữ, thì đó là vì doanh nghiệp không có sẵn cổ phiếu được phép phát hành (authorized share) và đây chỉ mới như điều thuận tiện cho doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp dùng cổ phiếu quỹ để thưởng cho nhân viên như ta thường thấy (theo các tiêu chí “chiêu hiền đãi sĩ” thay cho việc thưởng bằng tiền), thì đó chẳng qua là cách bán lại số cổ phiếu này với nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại. Tương tự là việc dùng cổ phiếu quỹ để chia cổ tức. Chia cổ tức bằng cổ phiếu quỹ nếu được cho là điều gì mới lạ, thì việc này cũng chỉ có thể được thực hiện thông qua nguồn tài trợ là lợi nhuận giữ lại.

dịch vụ chữ ký số tại thanh xuân Điều này không khác việc chia cổ tức bằng cổ phiếu theo cách đã quen thuộc, chẳng có gì phải bàn cãi, vì cổ phiếu quỹ lúc này đơn giản chỉ là loại cổ phiếu chưa phát hành.

Còn nếu cho rằng, cổ phiếu quỹ đã được “tạo ra” bằng nguồn lợi nhuận giữ lại, nên được xem là tài sản, thì đó chỉ là sự o ép sai lầm, là việc dấu trừ (-) đã bị để nhầm chỗ. Một lần nữa, ta cần xác định, việc mua cổ phiếu quỹ sẽ làm giảm tiền mặt và giảm nguồn vốn chủ sở hữu nói chung. Tiền đó đã bị rút ra khỏi doanh nghiệp và cổ phiếu quỹ kia chỉ có giá trị như một chữ ký nhận. Chấm hết!

DN cổ phần và thị trường chứng khoán sẽ rất khó phát triển trong điều kiện kém đồng bộ và không tương thích. Đây lại là những định chế du nhập, hiểu sâu biết đủ thôi đã mệt. Không nên vội có những sáng kiến xa lạ với các mắc xích khoa học.

Huy Nam - Chuyên viên Kinh tế Tài chính Chứng khoán doanh nghiệp
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo Kiemtoan

[Read More...]


Dự kiến tăng 35% lương tối thiểu



Từ 1/1/2013, lương tối thiểu vùng tại mọi loại hình doanh nghiệp có thể tăng 700.000 đồng lên mức cao nhất 2,7 triệu đồng một tháng, theo đề xuất của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Trong dự thảo Nghị định về lương tối thiểu vùng công bố chiều 16/8, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất 2 phương án điều chỉnh. Với phương án thứ nhất, mức tối thiểu quy định cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I là 2,7 triệu đồng, tăng 700.000 đồng so với hiện hành. Các doanh nghiệp hoạt động ở vùng II, III và IV lần lượt áp dụng mức 2,4 - 2,13 - 1,93 triệu đồng một tháng.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định Ở phương án thứ hai, Bộ đề xuất mức cao nhất cho vùng một là 2,5 triệu đồng và thấp nhất là 1,8 triệu đồng cho vùng IV.



Nghị định này nếu được thông qua sẽ áp dụng từ 1/1/2013, cho các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.

Lương tối thiểu vùng là mức sàn cho doanh nghiệp và người lao động căn cứ để thỏa thuận tiền lương. Dự thảo khuyến khích các doanh nghiệp trả lương cho người lao động cao hơn quy định. Đồng thời, dự thảo quy định tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề, kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề, phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng theo quy định.

Trên thực tế, lương tối thiểu vùng chỉ mang tính chất tham chiếu để các doanh nghiệp xây dựng bảng lương và làm căn cứ tính bảo hiểm cho người lao động. Và thu nhập thực lĩnh của lao động tại nhiều doanh nghiệp đều cao hơn so với mức tối thiểu này.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận 9 Bản thân mức lương tối thiểu cũng được cho là lạc hậu so với đời sống thực tế. Khảo sát năm 2011 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy, mức sống tối thiểu của người lao động từ vùng IV đến vùng I lần lượt là 2,47 - 2,66 - 2,86 và 3,04 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi mức cao nhất áp dụng trước 1/10/2011 là 1,55 triệu đồng và sau mốc này cũng chỉ là 2 triệu đồng một tháng.

Trong một hội thảo tổ chức tháng 5, ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nhân công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) phải thốt lên 20 năm qua lương tối thiểu chưa bao giờ đạt đến mức sống tối thiểu.

dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông Song Linh
Theo VnExpress

[Read More...]


Thấy gì từ thu, chi và bội chi ngân sách 10 tháng?



Ngay từ giữa năm, Thủ tướng Chính phủ đã quan ngại về thu ngân sách và cho rằng nếu thu ngân sách không đạt kế hoạch sẽ rất khó khăn về cân đối, buộc phải cắt giảm đầu tư và chi tiêu.

Sau 10 tháng, dù đã có nhiều cố gắng nhưng các chuyên gia vẫn lo lắng với mức thu và bội chi ngân sách được công bố.
Từ số liệu được Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê công bố về tình hình thu-chi ngân sách 10 tháng đầu năm 2012, chúng ta thấy nổi lên một số điểm:

Thứ nhất, tỷ lệ tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng so với dự toán cả năm đạt 70,7%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ tương ứng của cùng kỳ nhiều năm qua.

Ngoài khoản thu từ dầu thô vượt kế hoạch (đạt 103,6%), cùng hai khoản thu khác cao hơn tỉ lệ chung là thu từ thuế thu nhập cá nhân (78,5%), thu từ thuế bảo vệ môi trường (74,3%), còn lại tất cả các khoản thu khác đều đạt thấp: thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt rất thấp; thu nội địa là khoản thu lớn nhất nhưng đạt thấp hơn tỷ lệ chung, còn các khoản thu lớn khác cũng không khả quan (thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 69,8%, thu từ doanh nghiệp FDI không kể dầu thô đạt 63,1%, thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước đạt 61,8%, thu phí và lệ phí đạt 66,9%.

Thứ hai, tổng thu ngân sách nhà nước/GDP trong 9 tháng đầu năm nay đạt 25,3%. Đây là một tỷ lệ thuộc loại khá cao so với các nước và còn cao so với định hướng của Việt Nam (22-23%). Vấn đề đặt ra là: tại sao tổng thu ngân sách tăng thấp, mà tỷ lệ thu ngân sách/GDP vẫn cao?

Nguyên nhân chủ yếu là do GDP tính theo giá so sánh và tính theo giá thực tế 9 tháng năm nay bị “co lại” (tăng thấp so với tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước) và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp.

Thứ ba, tỷ lệ thực hiện so với dự toán năm của tổng chi cao hơn tỷ lệ của tổng thu. Do vậy, tỷ lệ bội chi so với dự toán cả năm theo tính toán sơ bộ đã cao hơn tỷ lệ tương ứng của tổng thu và của tổng chi (89,1% so với 70,7% và 75,1%). So với cùng kỳ năm trước, trong khi tổng thu tăng thấp so với tốc độ tăng của tổng chi đã làm cho mức bội chi tuyệt đối của kỳ này cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Đáng lưu ý, tỷ lệ bội chi so với GDP, nếu cả năm 2011 là 4,9%, thì 9 tháng năm nay đã ở mức gần 6,1%; trong khi chỉ tiêu kế hoạch cả năm nay là 4,8%. Đây là cảnh báo quan trọng, bởi tỷ lệ bội chi cao là yếu tố tiềm ẩn của lạm phát, tăng vay nợ, gây bất ổn kinh tế vĩ mô trong thời gian tới.

Để khắc phục những hạn chế bất cập và giảm bớt những khó khăn thách thức trên, cần thực hiên một số biện pháp sau:

Một, về lâu dài cần làm cho “chiếc bánh’’GDP to ra. Nếu GDP là hiệu quả của nền kinh tế, thì tỷ lệ thu ngân sách/GDP là hiệu quả của hiệu quả. Tỷ lệ thu ngân sách/GDP cao có một phần do quy mô GDP còn nhỏ.

Để GDP to ra, đối với nông, lâm nghiệp - thuỷ sản cần tăng chế biến để tăng giá trị gia tăng; đối với công nghiệp giảm tính gia công. Giảm chi phí trung gian để tăng giá trị gia tăng. Khi có quy mô GDP lớn hơn, “chiếc bánh” to ra, thì việc phân chia “chiếc bánh” này thuận hơn, tỷ lệ tính bằng phần trăm của ngân sách nhà nước dù có thể thấp đi, nhưng về quy mô tuyệt đối vẫn cao hơn.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định Hai, ngành tài chính cần phối hợp chặt chẽ hơn với các ngành, các cấp để đẩy mạnh hơn nữa việc chống thất thu do buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển gia, lạm dụng tạm nhập - tái xuất,...; chống nợ đọng thuế. Các năm trước nhờ biện pháp này mà thực tế thu năm nào cũng vượt cao so với dự toán năm và tăng cao so với năm trước.

dịch vụ chữ ký số tại quận tây hồ Ba, cùng với việc trên, đối với sản xuất trực tiếp cần quan tâm hơn nữa để “khoan thứ sức dân”, “nuôi dưỡng nguồn thu”, giúp cho người sản xuất, kinh doanh vượt qua thời kỳ khó khăn này. Cần phát huy hơn nữa tác động của việc cắt, giảm, hoãn thuế và phí, như Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra, có thể tăng liều lượng cắt giảm thuế giá trị gia tăng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giảm giá bán, tăng tiêu thụ, bởi tiêu thụ đang là điểm nghẽn lớn hiện nay.

Bốn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vốn đầu tư từ ngân sách, từ vốn trái phiếu Chính phủ, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế.

Năm, bám sát dự toán để điều hành “tiến độ” thực hiện, kiên quyết giữ mức bội chi/GDP như mục tiêu đã đề ra. Cần chú ý GDP tính theo giá thực tế năm nay sẽ không tăng cao, do tốc độ tăng theo giá so sánh thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch và thấp hơn năm trước; do tốc độ tăng CPI tính bình quân năm của năm nay có thể thấp hơn năm trước (khả năng cả năm chỉ bằng một nửa tốc độ tăng 18,58% của năm trước). Khi quy mô và các tốc độ tăng này không đạt như kế hoạch thì thu, chi, bội chi cũng bị tác động so với dự toán đã lập.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận tây hồ Theo VnEconomy

[Read More...]


Quý IV: Doanh nghiệp nào sẽ cán đích?



Bên cạnh nhiều DN giảm lợi nhuận, thua lỗ, vẫn có những DN ở ngành dược phẩm, thực phẩm, thậm chí là bất động sản... sẽ hoàn thành tốt kế hoạch năm.

Dược phẩm là một trong những ngành được kỳ vọng cán đích kế hoạch 2012

Không thể…

2012 là một năm đặc biệt khó khăn đối với các DN xây lắp, vật liệu xây dựng. Xuất phát từ sự tác động của thị trường bất động sản, một số DN ngành thép như Thép Việt Ý, Thép Việt Đức, Đại Thiên Lộc… đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Các DN xi măng, gạch ngói cũng chật vật không kém.

Đã gần hết tháng 11, nhưng CTCP Xi Măng Hoàng Mai (HOM) cho biết, Công ty sẽ điều chỉnh giảm kế hoạch lợi nhuận trong tháng 12/2012, vì tính đến hết tháng 10, Công ty mới đạt lợi nhuận khoảng 66 tỷ đồng, chỉ bằng 40% kế hoạch cả năm. Như vậy, HOM ước đạt khoảng 90 tỷ đồng lợi nhuận trong năm nay, trong khi kế hoạch ban đầu là 163 tỷ đồng. Tương tự, 9 tháng đầu năm, CTCP Cơ điện và xây dựng Việt Nam (MCG) cũng chỉ đạt 3,56 tỷ đồng lợi nhuận, chưa bằng số lẻ của kế hoạch đề ra từ đầu năm là 63,77 tỷ đồng. Với các DN này, việc đạt được chỉ tiêu kế hoạch năm 2012 xem như không thể.

Có thể…

Dù khó đạt lợi nhuận đột biến, nhưng các DN ngành dược phẩm vẫn đang hoạt động ổn định và việc đạt được chỉ tiêu lợi nhuận dường như là trong tầm tay. Ông Nguyễn Quốc Định, Phó tổng giám đốc CTCP Dược phẩm Imexpharm (IMP) cho biết, trong năm nay Công ty sẽ hoàn thành so với kế hoạch lợi nhuận trước thuế cả năm mà Công ty đã đặt ra là 115 tỷ đồng. Theo lãnh đạo IMP, một trong những mục tiêu quan trọng của IMP là rà soát lại các chi phí hoạt động, giá thành sản xuất nhằm đảm bảo nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty để hoàn thành kế hoạch mà ĐHCĐ đã thông qua và đảm bảo tỷ lệ chi trả cổ tức đạt 22% trong năm nay.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Các DN thực phẩm cũng thuộc một trong các ngành có cơ hội để hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh năm trong quý IV này. Ông Trương Phú Chiến, Tổng giám đốc CTCP Bánh kẹo Biên Hòa (BBC) cho biết, quý IV thường là thời gian Công ty đạt doanh số và lợi nhuận cao hơn. Riêng quý IV/2012, BBC đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30 tỷ đồng (trong khi 9 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 1/3 số này). Hiện tại, BBC vẫn đang tập trung nguồn lực để đầu tư vào Nhà máy Bibica Hưng Yên, góp phần tăng năng lực sản xuất của Công ty với khoảng hơn 150 chủng loại sản phẩm dự kiến sẽ được BBC tung ra dịp Tết năm nay.

Lãnh đạo CTCP Bánh kẹo Hải Hà (HHC) tin rằng, quý IV năm nay, Công ty có thể đạt lợi nhuận cao hơn so với bình quân các quý đầu năm. Cùng ngành, các thương hiệu như Kinh Đô, Hữu Nghị… cũng đang sẵn sàng tranh thủ thu hoạch mùa vụ cuối năm.

Bất động sản là một trong những ngành khó khăn nhất trong năm 2012, nên quý IV càng được các DN ngành này hy vọng. Tổng CTCP Đầu tư phát triển xây dựng (DIG) cho biết, trong quý IV/2012, lợi nhuận của Công ty sẽ đạt cao hơn do Công ty ghi nhận doanh thu từ 2 dự án là Lakeside Apartment tại Khu đô thị Chí Linh - Vũng Tàu và Khu biệt thự Đồi An Sơn (Đà Lạt). Nhờ đó, nhiều khả năng Công ty vẫn hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế cả năm là 115 tỷ đồng.

dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Một số DN bất động sản khác như NTL, HDG, VC2… cũng hy vọng vào quý IV/2012, thời điểm ghi nhận doanh thu từ các dự án đã và đang được bán. Tuy nhiên, đại diện một DN trong nhóm này cho biết, thị trường bất động sản quá yên ắng, nên nếu có khởi sắc cuối năm, cơ hội để DN đạt được chỉ tiêu đề ra đầu năm không thực sự lớn.

và… đã cán đích

Nhiều DN vẫn có khả năng “miễn dịch” với những khó khăn chung của nền kinh tế và đã về đích trước hạn khi mới kết thúc 3 quý đầu năm. CTCP PV Gas (GAS) là cái tên “nổi bật khi 9 tháng đầu năm đã vượt 35% kế hoạch, đạt lợi nhuận sau thuế 7.152 tỷ đồng. Một số DN vừa chạm đích lợi nhuận như Tổng CTCP Kỹ thuật dầu khí Việt Nam - PTSC (PVS), Tổng CTCP Đạm Phú Mỹ (DPM), CTCP Sản xuất thương mại May Sài Gòn (GMC)…
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận tây hồ Theo Tinnhanhchungkhoan

[Read More...]


Các ngân hàng lại lỗi hẹn tăng vốn



Năm 2012 sắp qua đi, nhưng kế hoạch tăng vốn của nhiều ngân hàng, nhất là ở khối ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ vẫn nằm trên giấy.

Vậy là, thêm một năm nữa, kế hoạch tăng vốn ở nhiều ngân hàng tiếp tục phải dời lại.


Nhiều ngân hàng đã không thể tìm cách tăng vốn điều lệ như kế hoạch

Phải hoãn sang năm

Có thể điểm tên một số nhà băng đặt kế hoạch tăng vốn điều lệ từ đầu năm nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được như: VietAbank, NamAbank, OCB, Navibank, Westernbank… Nguyên nhân lỗi hẹn chủ yếu do tình hình thị trường chứng khoán suy giảm, giá cổ phiếu ngành ngân hàng rơi vào vùng nhạy cảm, việc thu hút vốn gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng Nhà nước thực hiện đề án tái cơ cấu ngành, trong đó, nhóm ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ phải đối mặt với xu hướng hợp nhất hoặc sáp nhập (M&A).

NamA Bank là một điển hình. Với quy mô vốn điều lệ còn khá khiêm tốn, nhà băng này đã lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 3.700 tỷ đồng trong năm 2011. Kế hoạch này đã được ĐHCĐ thường niên 2011 của Ngân hàng thông qua. Thế nhưng, do thị trường khó khăn, nhà băng đã dời kế hoạch tăng vốn sang năm 2012 và nhiều khả năng tiếp tục phải hoãn lại vào năm sau.

Tại ĐHCĐ thường niên diễn ra hồi đầu năm nay, bà Nguyễn Thị Xuân Loan, Chủ tịch HĐQT NamA Bank cho biết, có thể năm nay, Ngân hàng sẽ niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. HCM (HOSE). Theo bà Loan, NamA Bank kiên quyết không lựa chọn hình thức mua bán, sáp nhập với các đơn vị trong ngành, mà sẽ dựa vào nội lực để phát triển, vì thế, tăng vốn là điều cần thiết.

Để có thể tránh được làn sóng M&A đang ngày càng mạnh lên trong lĩnh vực tài chính, kể từ cuối năm ngoái, các nhà băng nhỏ đã lên kế hoạch huy động vốn từ các cổ đông hiện hữu cũng như cổ đông mới, với kỳ vọng tăng thêm tiềm lực tài chính, củng cố nội lực để tồn tại. Vì thế, trong tờ trình ĐHCĐ năm 2012, không ngân hàng nào bỏ sót việc tăng vốn điều lệ.

Trong kế hoạch tăng vốn điều lệ đưa ra đầu năm 2012, VietAbank cho biết, sẽ phát hành cổ phiếu nâng vốn lên 5.000 tỷ đồng, tăng 61% so với trước đó. Theo đó, VietAbank phát hành trên 10,8 triệu cổ phiếu để phân phối nguồn thặng dư vốn cổ phần cho cổ đông hiện hữu, tỷ lệ 3,49%; đồng thời, chào bán cho cổ đông cũ trên 30,9 triệu cổ phiếu tỷ lệ phân phối 10:1, giá phát hành 10.000 đồng/cổ phiếu và phát hành hơn 148,3 triệu cổ phiếu cho các nhà đầu tư, đối tác trong và ngoài nước, với giá khởi điểm 10.000 đồng/cổ phiếu. Thế nhưng, đến nay, kế hoạch này của VietAbank vẫn giậm chân tại chỗ.

Không còn kỳ vọng từ cổ đông lớn

Trước bối cảnh hiện nay, các ngân hàng cần thiết tăng vốn điều lệ để đảm bảo năng lực tài chính, đáp ứng các tiêu chuẩn theo mục tiêu tái cấu trúc hệ thống NHTM của NHNN. Thế nhưng, muốn thực hiện được kế hoạch này không hề dễ dàng, nhất là trước diễn biến của thị trường năm 2012, khi tỷ lệ nợ xấu của các nhà băng tăng mạnh và rơi vào ở nhóm ngân hàng nhỏ. Áp lực sáp nhập và hợp nhất giữa các nhà băng nhỏ gia tăng khi có mức nợ xấu cao và thanh khoản bị đe dọa, khiến cổ đông không mặn mà góp vốn.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng Theo lý giải của các nhà băng, sở dĩ ngân hàng phải lùi kế hoạch tăng vốn vào thời điểm cuối năm là do TTCK năm nay giảm sút, giá cổ phiếu ngân hàng chưa được cải thiện, nhất là trước bối cảnh khó khăn đã ảnh hưởng đến tiến trình tăng vốn. Các nhà băng cũng khó có thể kỳ vọng vào cổ đông chiến lược trong và ngoài nước trong quá trình phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn điều lệ.

Trong đề án tái cấu trúc nền kinh tế, mà trọng tâm là tái cấu trúc DNNN, Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước phải thu hẹp đầu tư ngoài ngành. Với chủ trương này của Chính phủ, một số ngân hàng không còn trông chờ vào các cổ đông chiến lược là tập đoàn kinh tế nhà nước rót thêm vốn. Chẳng hạn, việc thoái vốn của cổ đông lớn là Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) khỏi VietAbank chắc sẽ chắn ảnh hưởng đến kế hoạch tăng vốn nói trên của Ngân hàng. Đến thời điểm này, VietAbank chưa có động tĩnh gì về việc triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận tây hồ Lãnh đạo OCB cho hay, Ngân hàng có kế hoạch tăng vốn điều lệ lên mức 4.000 tỷ đồng, nhưng đến nay, vẫn chưa thể thực hiện được. Năm 2011, kế hoạch tăng vốn của OCB đã không thành công và Ngân hàng chỉ hoàn thành được 88,7% kế hoạch đề ra (tăng vốn lên 3.400 tỷ đồng). Hiện OCB đã có cổ đông chiến lược nước ngoài là Tập đoàn tài chính BNPP (Pháp), với tỷ lệ nắm giữ cổ phần tại OCB là 20%, nên đã hết cơ hội gọi vốn từ cổ đông chiến lược nước ngoài. Điều này cũng diễn ra tương tự ở ABBank.

Việc tìm kiếm cổ đông chiến lược mới để huy động vốn trong bối cảnh hiện nay cũng không dễ với nhà băng. Đơn cử như DongA Bank, Ngân hàng cho biết, vẫn chưa tìm được đối tác phù hợp, cho dù DongA Bank đã có một thời gian dài tìm hiểu.
dịch vụ chữ ký số tại vĩnh phúc Theo Tinnhanhchungkhoan

[Read More...]


Có thể bị xử phạt 20 triệu đồng nếu khai man số liệu thống kê



Dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến để trình Chính phủ.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Dự thảo Nghị định đưa ra mức phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với hành vi lập báo cáo thống kê không đầy đủ nguồn số liệu theo quy định. Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đồng đối với hành vi giả mạo báo cáo thống kê, khai man số liệu trong báo cáo thống kê; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo báo cáo thống kê, khai man số liệu trong báo cáo thống kê.

Dự thảo Nghị định cũng quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thu hồi báo cáo thống kê đối với hành vi vi phạm quy định về yêu cầu chính xác của báo cáo thống kê. Hành vi công bố thông tin thống kê sai sự thật cũng có thể bị phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng và buộc phải đính chính những thông tin thống kê đã công bố sai sự thật.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Đáng chú ý, dự thảo Nghị định quy định các hình thức xử phạt đối với hành vi không ghi rõ nguồn gốc của thông tin thống kê khi phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm.

Việc trích dẫn không đúng nguồn gốc thông tin thống kê khi phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm có thể sẽ bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng và từ 10 đến 20 triệu đồng đối với hành vi làm sai lệch các thông tin thống kê đã được cơ quan có thẩm quyền công bố để phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm. Những thông tin thống kê đã trích dẫn, phổ biến, đăng tải không đúng sẽ bị buộc đính chính.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo Baohaiquan

[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page