Xác định thời gian trích khấu hao TSCĐ qua khung khấu hao



Theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 12: Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy trình sản xuất và chuyển một phần giá trị vào sản phẩm, do đó nó cần phải trích khấu hao.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Khấu hao TSCĐ là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng. Khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Việc trích khấu hao TSCĐ phải tuân thủ khung thời gian trích khấu hao tài sản cố định, được quy định tại phụ lục 01 của thông tư 45/2013/TT-BTC để xác định thời gian trích khấu hao cho từng loại tài sản cố định cụ thể. Nếu trích khấu hao nhanh hơn khung thì chi phí vượt khung đó sẽ bị loại ra khỏi chi phí được trừ của kỳ đó khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
Tổng hợp

[Read More...]


Những quy định cơ bản về kỳ kế toán



Kỳ kế toán là quy định về một chu kỳ của hoạt động kế toán, từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính. Theo pháp luật Việt Nam thường bao gồm kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng. Tuy nhiên, do đặc thù công tác và chế độ quy định chung, các công ty có thể quy định thêm về kỳ kế toán của mình.

Kỳ kế toán năm là mười hai tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Đơn vị kế toán có đặc thù riêng về tổ chức, hoạt động được chọn kỳ kế toán năm là mười hai tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đồi từ đầu ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và thông báo cho cơ quan tài chính biết;


Kỳ kế toán quý là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý;

Kỳ kế toán tháng là một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Đối với DN mới thành lập:

  - Kỳ kế toán đầu tiên của doanh nghiệp mới được thành lập tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đến hết ngày cuối cùng của kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này;

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng   - Kỳ kế toán đầu tiên của đơn vị kế toán khác tính từ ngày có hiệu lực ghi trên quyết định thành lập đến hết ngày cuối cùng của kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản thì kỳ kế toán cuối cùng tính từ đầu ngày kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này đến hết ngày trước ngày ghi trên quyết định chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản đơn vị kế toán có hiệu lực.

Trường hợp kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng có thời gian ngắn hơn chín mươi ngày thì được phép cộng (+) với kỳ kế toán năm tiếp theo hoặc cộng (+) với kỳ kế toán năm trước đó để tính thành một kỳ kế toán năm. Kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng phải ngắn hơn mười lăm tháng.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàng mai Tổng hợp

[Read More...]


Nâng cao hiệu quả ứng dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam



Trước xu thế hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, Việt Nam đang từng bước tiến hành cải cách toàn diện hệ thống kế toán nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, đòi hỏi về thông tin đa dạng, phục vụ cho công tác điều hành của doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để hình thành kế toán quản trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Kế toán quản trị trong hoạt động của doanh nghiệp

Kế toán quản trị trong hoạt động của doanh nghiệp

Ở Việt Nam, kế toán quản trị (KTQT) là một thuật ngữ tương đối mới mẻ, chỉ được chứng minh cụ thể nhất trong Luật Kế toán vào ngày 17/06/2003.

KTQT là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp (DN). Qua đó, phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Thông tin của KTQT đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của DN, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá DN đó. Thông tin mà KTQT cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Có thể nói, bản chất của thông tin trong KTQT là thông tin quản lý, không phải thông tin tài chính đơn thuần. Trước khi tập hợp thông tin KTQT phải biết rõ mục đích của thông tin đó. Bên cạnh đó, KTQT trong DN cũng có những mục tiêu rất rõ ràng:

Một là, biết được từng thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ.

Hai là, xây dựng được các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động.

Ba là, kiểm soát thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phí theo dự toán và thực tế.

Bốn là, cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà quản lý để có các quyết định kinh doanh hợp lý, nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu mà DN đề ra, từ đó làm tăng giá trị DN (giá trị cổ đông) và giá trị khách hàng.

“Nhận diện” điểm khác biệt và tương đồng giữa KTQT với kế toán tài chính

Điểm khác biệt:

- Về đối tượng sử dụng thông tin: kế toán tài chính (KTTC) chủ yếu hướng đến đối tượng bên ngoài: Cổ đông, chính phủ (cơ quan thuế, cơ quan quản lý tài chính…), khách hàng, nhà cung cấp... còn KTQT chủ yếu chỉ phục vụ các đối tượng bên trong DN như: Các chủ sở hữu, ban giám đốc, quản lý viên, giám sát viên, các quản đốc…

Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó. Thông tin mà kế toán quản trị cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Có thể nói, bản chất của thông tin trong kế toán quản trị là thông tin quản lý, không phải thông tin tài chính đơn thuần.

- Về tính chất thời gian: KTQT chú trọng tương lai, KTTC đi sâu vào quá khứ. Cụ thể, thông tin của KTTC là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy ra. Trong khi đó, thông tin của KTQT chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.

- Về tính chính xác: KTTC nhấn mạnh tính chính xác, khả năng xác minh còn KTQT chú trọng đến sự kịp thời, không cần thật chính xác, thậm chí nhiều ước định.

- Về nguyên tắc trình bày thông tin: Thông tin KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông tin KTQT cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của người quản lý, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung.

- Về tính pháp lý: KTTC có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của KTTC đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận. Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng DN phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng DN.

- Về kỳ báo cáo: Thông thường, báo cáo của KTQT thường xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của KTTC. Báo cáo của KTTC được soạn thảo theo định kỳ, thường là hàng năm, còn báo cáo của KTQT được soạn thảo thường xuyên theo yêu cầu quản trị DN. KTQT không có lộ trình cố định như KTTC. Báo cáo của KTTC được thực hiện thông qua một lịch trình cụ thể và vào được DN thông qua có kế hoạch.

- Về hình thức báo cáo sử dụng: Báo cáo được sử dụng trong KTTC là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các Báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của DN trong một thời kỳ (gồm, bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính). Trong khi đó, báo cáo của KTQT đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của DN (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất và tồn kho của hàng tồn kho…).

Điểm tương đồng:

- Một là, KTQT và KTTC đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong DN và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động và quá trình lưu chuyển tiền tệ của DN. Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh chi tiết, tỉ mỉ của các vấn đề đó.

- Hai là, KTQT và KTTC đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán - cơ sở để KTTC soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài. Đối với KTQT, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị.

- Ba là, KTQT và KTTC đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý. KTTC biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cao cấp, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp trên trong DN.

Đề xuất, kiến nghị

KTQT hiện đang nhận được sự đón nhận tích cực từ nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, việc quản lý yếu kém trong áp dụng KTQT đối với các DN quy mô vừa trở lên dẫn đến hạn chế trong hội nhập. Để giúp DN nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cần có giải pháp về KTQT, cụ thể:

- Một là, cần nhanh chóng thay đổi nhận thức về KTQT. KTQT hiện nay của chúng ta đang ở đâu và có những rào cản nào trong quá trình phát triển? Các DN cần có cái nhìn đúng đắn về KTQT, và quan trọng hơn cả là chủ động, đẩy mạnh áp dụng KTQT trong hoạt động điều hành sản xuất – kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất.

- Hai là, theo kịp chuẩn kế toán quốc tế. Theo đó, các DN Việt Nam cần tuân thủ và đảm bảo chế độ kế toán rõ ràng, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế để số liệu của các DN Việt Nam được cơ quan điều tra chấp nhận sử dụng khi cần, đồng thời cần lưu giữ tất cả các số liệu, sổ sách chứng từ cần thiết nhằm tránh rủi ro có thể xảy ra.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức - Ba là, ngay từ khâu lập kế hoạch kinh doanh cũng như xây dựng chiến lược đề phòng rủi ro từ trước, các DN cần phải có sự nhìn nhận một cách đúng đắn và thấu đáo. Các báo cáo doanh thu, chi phí và số lượng sản phẩm tiêu thụ là điều kiện cơ bản để đánh giá hiệu quả phát triển của DN. Đây chính là việc thu nhập, xử lý, đánh giá và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán - công việc của KTQT.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng - Bốn là, tăng cường học tập kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới. KTQT hiện rất phổ biến ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Chính điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có thể “đi tắt, đón đầu” thông qua việc tăng cường hợp tác và đào tạo về KTQT.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Kế toán năm 2013;

2. Kế toán quản trị trong doanh nghiệp http://ketoan24h.com/;

3. Tài liệu Kế toán quản trị Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông.
Theo Tạp chí Tài chính số 6 - 2014
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
[Read More...]


Mẫu sổ cái dùng cho hình thức kế toán nhật ký chung - Mẫu S03b-DN



Sổ Cái là sổ kế toán tổng hợp duy nhất dùng để phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và hệ thống hoá theo nội dung kinh tế (Theo tài khoản kế toán). Sổ cái dùng cho hình thức kế toán nhật ký chung theo Mẫu số S03b-DN  (Ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC Ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính)

Mẫu số S03b-DN  theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC:


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Cách ghi:

Sổ Cái được quy định thống nhất theo mẫu ban hành trong chế độ này. Cách ghi Sổ Cái được quy định như sau:

- Cột A: Ghi ngày, tháng ghi sổ.
- Cột B, C: Ghi số hiệu và ngày, tháng lập của chứng từ kế toán được dùng làm căn cứ ghi sổ.
- Cột D: Ghi tóm tắt nội dung nghiệp vụ phát sinh.
- Cột E: Ghi số trang của sổ Nhật ký chung đã ghi nghiệp vụ này.
- Cột G: Ghi số dòng của sổ Nhật ký chung đã ghi nghiệp vụ này.
- Cột H: Ghi số hiệu của các tài khoản đối ứng liên quan đến nghiệp vụ phát sinh với tài khoản trang Sổ Cái này (Tài khoản ghi Nợ trước, tài khoản ghi Có sau).

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng - Cột 1, 2: Ghi số tiền phát sinh bên Nợ hoặc bên Có của tài khoản theo từng nghiệp vụ kinh tế.

   Đầu tháng, ghi số dư đầu kỳ của tài khoản vào dòng đầu tiên, cột số dư ( Nợ hoặc Có ). Cuối tháng, cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có, tính ra số dư và cộng lũy kế số phát sinh từ đầu quý của từng tài khoản để làm căn cứ lập Bảng cân đối phát sinh và Báo cáo tài chính.
dịch vụ chữ ký số tại quận long biên Tổng hợp

[Read More...]


Mức phạt hành vi lập hóa đơn không thống nhất giữa các liên



Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Theo điểm C, khoản 1 Điều 16 của TT 39/2014/TT-BTC – quy định về sử dụng hóa đơn thì: Hóa đơn được lập một lần thành nhiều liên. Nội dung lập trên hóa đơn phải được thống nhất trên các liên hóa đơn có cùng một số.

Nếu khi lập hóa đơn kế toán vi phạm nguyên tắc trên ví dụ như lập liên 1 và liên 3 của cùng một hóa đơn khác với liên 2 giao cho khách hàng thì hành vi đó được gọi là Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp - Được quy định cụ thể tại điều 23 của TT 39/2014/TT-BTC

"Điều 23. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn

1. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác.

2. Một số trường hợp cụ thể được xác định là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn:

- Hóa đơn có nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ.

- Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán ra, để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra để gian lận thuế, để bán hàng hóa nhưng không kê khai nộp thuế.

- Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán hàng hóa, dịch vụ, nhưng không kê khai nộp thuế, gian lận thuế; để hợp thức hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ.

- Hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn.

- Sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ mà cơ quan thuế, cơ quan công an và các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn."

Mức phạt cho hành vi lập hóa đơn không thống nhất giữa các liên hay nội dung giữa các liên cùng 1 số hóa đơn không giống nhau sẽ bị sử phạt theo khoản 5 điều 11 của TT 10/2014/TT-BTC – Hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn - Có HL: 2/3/2014 như sau:

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc hành vi sử dụng bất hợp pháp hoá đơn.

Chú ý: Nếu hành vi này được thực hiện trước ngày 09 tháng 11 năm 2013, tức là từ khi nghị định 109/2013/NĐ-CP có hiệu lực thì xử phạt theo Điều 33. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ - của nghị định 51/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 và thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thái bình 6. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi:

a) Lập hoá đơn có sai lệch nội dung giữa các liên;

Đặc biệt kế toán cần quan tâm:

- Nếu trường hợp doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế thì doanh nghiệp chỉ bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP, Thông tư số 61/2007/TT-BTC, Thông tư số 166/2013/TT-BTC nêu trên, không bị xử lý về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, Thông tư số 10/2014/TT-BTC nêu trên.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên - Nếu trường hợp doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà không dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế thì doanh nghiệp chỉ bị xử lý về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, Thông tư số 10/2014/TT-BTC nêu trên, không bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP, Thông tư số 61/2007/TT-BTC, Thông tư số 166/2013/TT-BTC nêu trên.

Theo công văn Số: 568/TCT-CS V/v xử lý vi phạm hành chính về hóa đơn - ngày 26 tháng 02 năm 2014
dịch vụ chữ ký số tại quận nam từ liêm Tổng hợp

[Read More...]


Tạo cơ hội nghề nghiệp cho nhân sự kế toán – tài chính



Vừa qua, tọa đàm “Vietnam CFO Roundtable Meeting – Vai trò của Giám đốc tài chính (CFO) đối với sự thành công doanh nghiệp” do Smart Train và Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA) phối hợp tổ chức. Vai trò của CFO không chỉ tập trung vào kế toán – tài chính mà còn phải am hiểu hoạt động kinh doanh, phân tích và triển khai chiến lược.

Các diễn giả giao lưu cùng khách mời. Ảnh Financeplus.vn

Tham dự chương trình có Tiến sĩ Joshua Heniro – Giám đốc IMA khu vực Đông Nam Á, ông Mai Thanh Tòng – Phó chủ tịch Hội Kế toán hành nghề Việt Nam, bà Nguyễn Phương Mai – Giám đốc khu vực miền Nam công ty Navigos Search, ông Phạm Ngọc Hoàng Thanh – Giám đốc Điều hành Smart Train cùng nhiều CFO và lãnh đạo tài chính cấp cao đến từ các công ty đa quốc gia, doanh nghiệp lớn tại TP. Hồ Chí Minh.

Tiến sĩ Joshua Heniro – Giám đốc IMA khu vực Đông Nam Á nhận định những tác động như rủi ro, phát triển công nghệ hoặc xu thế toàn cầu hóa đã làm thay đổi vai trò của CFO hiện đại. Ngày nay các CFO không chỉ tập trung vào kế toán – tài chính mà còn phải am hiểu hoạt động kinh doanh, tương tác với các phòng ban khác, phân tích và triển khai chiến lược, cũng như xây dựng quan hệ với các bên hữu quan. Nếu nhận thức rõ và trang bị cho mình bộ kỹ năng thích hợp, các CFO nói riêng và đội ngũ kế toán – tài chính nói chung mới có thể góp phần tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Về xu hướng tuyển dụng CFO tại Việt Nam, bà Nguyễn Phương Mai – Giám đốc khu vực miền Nam, công ty Navigos Search cho biết các doanh nghiệp thường đề cao ứng viên có kỹ năng phân tích, biết diễn giải ý nghĩa đằng sau những con số, có sức ảnh hưởng và tư duy kinh doanh nhạy bén.

Ngoài ra, giới kế toán – tài chính Việt Nam cần cải thiện trình độ tiếng Anh và kỹ năng mềm nếu không muốn mất đi lợi thế cạnh tranh so với các ứng viên nước ngoài. “Kế toán – tài chính xếp thứ 3 trong top 10 ngành có nhu cầu tuyển dụng cao nhất 6 tháng đầu năm, nhưng nguồn cung vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Đây là thách thức lớn đối với các công ty tuyển dụng như chúng tôi,” bà Mai chia sẻ.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo ông Phạm Ngọc Hoàng Thanh – Giám đốc Điều hành Smart Train, “Vietnam CFO Roundtable Meeting – Vai trò của CFO đối với sự thành công doanh nghiệp” là sự kiện đầu tiên trong chuỗi tọa đàm được khởi xướng nhằm tạo cơ hội cho nhân sự kế toán – tài chính cấp cao được giao lưu và trao đổi kinh nghiệm, cũng như lắng nghe chia sẻ từ những chuyên gia hàng đầu.

Dự kiến chương trình sẽ diễn ra hàng tháng tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội với nhiều chuyên đề phong phú, bổ ích, hỗ trợ các cấp lãnh đạo nâng cao hiệu quả trong quản trị tài chính và quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.

Buổi tọa đàm nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ khách tham dự, với rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho diễn giả trong phần thảo luận. Ban tổ chức hy vọng đây là bước khởi đầu tốt đẹp cho các mô hình tương tự trong thời gian tới.

dịch vụ chữ ký số tại quận hai bà trưng Theo tapchitaichinh

[Read More...]


Kế toán môi trường và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp



Song hành với mục tiêu kinh doanh hiệu quả, tối đa hóa lợi nhuận thì các doanh nghiệp phải hướng đến việc bảo vệ môi trường. Đây là một trong những yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Mục đích của bài viết này xác định hệ thống kế toán môi trường là một nguồn thông tin quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định của doanh nghiệp và kiểm soát một cách chặt chẽ.

Tổng quan về kế toán môi trường

Kế toán môi trường (KTMT) là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng đã xuất hiện ở các nước phát triển từ thập niên 90 của thế kỷ trước. KTMT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1972, sau Hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Stockhom (Thụy Điển) vào năm 1972, nhưng chú trọng vào việc hạch toán ở cấp độ quốc gia, tức là KTMT quốc gia.

Tuy nhiên, phải đến năm 1990, KTMT tại các doanh nghiệp (DN) bắt đầu được nghiên cứu. Đến năm 1992, Ủy ban Bảo vệ môi trường (BVMT) Hoa Kỳ tiến hành dự án về KTMT với nhiệm vụ khuyến kích và thúc đẩy các DN nhận thức đầy đủ các khía cạnh về chi phí môi trường, mối quan hệ giữa chi phí môi trường và các yếu tố về môi trường trong các quyết định kinh doanh.

Khuôn mẫu về KTMT do Ủy ban BVMT Hoa Kỳ cung cấp là tài liệu cơ sở  để xây dựng khuôn mẫu về KTMT của Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc, Liên đoàn Kế toán quốc tế, Hiệp hội Kế toán viên quản trị Hoa Kỳ, các nước Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc...

KTMT ra đời từ áp lực của công chúng và các phong trào BVMT. Áp lực này đòi hỏi các DN trong quá trình hoạt động phải quan tâm đến các vấn đề về môi trường, tác động đến chính sách về môi trường của Chính phủ. Chính sách này đòi hỏi các DN phải bồi thường thiệt hại khi gây ra sự cố về môi trường, phải hạn chế chất thải, phải làm sạch chất thải... nhưng cũng làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến các khoản nợ tiềm tàng, từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và lợi ích của cổ đông.

KTMT được xây dựng trên cơ sở hệ thống Luật chính sách về môi trường quốc gia như Luật làm sạch môi trường, Luật làm sạch nước, Luật về các loài nguy hiểm, Luật Sarbanes - Oxley (Mỹ)  Luật tái chế và rác thải, Luật các khoản nợ môi trường... Việc áp dụng những biện pháp BVMT và KTMT sẽ làm tăng chi phí. Tuy nhiên, điều này cũng giúp DN thu được một số lợi ích như: thu nhập tăng từ tiết kiệm nước, năng lượng, nguyên liệu sử dụng, giảm chất thải, giảm chi phí xử lý chất thải.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán môi trường nhưng theo định nghĩa của Viện Kế toán quản trị (KTQT) môi trường: “KTMT là việc xác định, đo lường và phân bổ chi phí môi trường, kết hợp chi phí môi trường trong quyết định kinh tế, công bố thông tin cho các bên liên quan”. Theo tài liệu hướng dẫn thực hành KTMT của Nhật Bản thì “KTMT có mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng và theo đuổi các hoạt động BVMT trong quá trình hoạt động bình thường, xác định lợi ích từ các hoạt động, cung cấp cách thức định lượng và hỗ trợ phương thức công bố thông tin”.

Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): “Hạch toán quản lý môi trường là quản lý hoạt động kinh tế và môi trường thông qua việc triển khai và thực hiện các hệ thống hạch toán và các hoạt động thực tiễn phù hợp liên quan đến vấn đề môi trường”. Cơ quan Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD) thống nhất giữa các nhóm chuyên gia đến từ 30 quốc gia đã đưa ra định nghĩa như sau: “Hạch toán quản lý môi trường là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ: Thông tin vật chất (phi tiền tệ) về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và nguyên vật liệu (bao gồm chất thải) và thông tin tiền tệ về các chi phí, lợi nhuận và tiết kiệm liên quan đến môi trường”.

Nhìn chung, KTMT được xem xét từ hai góc độ: công tác kế toán và công tác quản lý môi trường. Bên cạnh đó, KTMT có rất nhiều chức năng khác nhau như hỗ trợ việc ra quyết định nội bộ trong hoạt động kinh doanh của DN nhằm hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động về môi trường. Đồng thời, cung cấp thông tin về tất cả các loại chi phí liên quan đến môi trường (trực tiếp và gián tiếp, chi phí ẩn và chi phí hữu hình...).

Ngoài ra, KTMT còn là cơ sở cho việc cung cấp thông tin ra bên ngoài phạm vi DN đến các bên liên quan như: Các ngân hàng, tổ chức tài chính, các cơ quan quản lý môi trường, cộng đồng dân cư… (như báo cáo tài chính, báo cáo môi trường của DN).

Những lợi ích của kế toán môi trường

Không chỉ đối tượng bên trong (nhà quản trị DN) mà ngay cả những đối tượng bên ngoài (chính phủ, tổ chức tài chính, cộng đồng dân cư...) đều quan tâm đến các thông tin mà KTMT cung cấp, có thể đó là những thông tin về KTMT dưới dạng đo lường bằng tiền (tiền tệ), hay những báo cáo về KTMT dưới dạng vật chất (phi tiền tệ). Đây chính là việc cần thiết khi áp dụng KTMT vào một DN cụ thể (Hình 1).

Hình 1 cho thấy, hệ thống thông tin của DN trong hệ thống thống tin của DN nói chung và KTMT nói riêng bao gồm 2 phần chính, đó là thông tin tài chính (thu nhập, chi phí, tài sản, nguồn vốn...) và thông tin dưới dạng phi tài chính (ảnh hưởng đến  môi trường, chỉ số đo lường môi trường...). Những thông tin này cần được thu thập, xử lý và công bố rộng rãi cho các đối tượng quan tâm bên trong hoặc bên ngoài DN.
Xây dựng hệ thống KTMT trong DN sẽ giúp DN đạt được nhiều lợi ích (Hình 2). Cụ thể:

Một là, nâng cao khả năng cạnh tranh. Việc trực tiếp hoặc gián tiếp gây tác động xấu đến môi trường sẽ có khả năng khiến hình ảnh công ty không đẹp trong mắt người sử dụng, từ đó sản phẩm dần mất uy tín trong mắt người tiêu dùng.

Hai là, tạo ra những lợi thế mang tính chiến lược. Ví dụ: Công ty A sản xuất một loại sản phẩm. Giả sử Công ty A sáng chế hoặc đặt hàng một công ty B thiết kế bao bì sản phẩm không bằng bọc nilon như các công ty khác (bọc nilon gây ảnh hưởng môi trường), mà là bao bì bằng giấy có khả năng tự phân hủy trong tự nhiên không gây tác động xấu đến môi trường. Điều này sẽ tạo nên sự khác biệt khá lớn đến nhận thức của người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng như hiện nay.

Ba là, tiết kiệm chi phí tài chính cho DN. Điều này đã được chứng minh qua một số DN tại các quốc gia phát triển khi sử dụng hệ thống KTMT. Nếu các DN không sử dụng KTMT thì các khoản phạt do việc làm ô nhiễm môi trường DN không được xem là chi phí hợp lý. Nếu DN chấp nhận bỏ chi phí nghiên cứu về việc sản xuất kết hợp với phát triển bền vững với môi trường thì có thể tạo ra được giá trị lớn hơn. Năm 2000, Ricoch thực hiện các biện pháp BVMT và vận dụng KTMT đã tính toán được chi phí cho hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường là 66 triệu USD, nhưng thu lại lợi ích là 79 triệu USD…

Bốn là, làm hài lòng và củng cố với các bên liên quan. Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức môi trường luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Nếu làm tốt việc bảo vệ môi trường thì có thể giúp DN có được những ưu đãi từ các đối tượng này.



Góp phần thay đổi nhận thức về kinh tế môi trường

Ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung chưa có nhiều DN quan tâm đến vấn đề KTMT, do đó chưa nhận thức được vai trò quan trọng của nó. Đặc biệt, khi hạch toán đầy đủ các chi phí môi trường thường dẫn đến kết quả làm tăng chi phí cho DN và đội giá thành lên cao hơn so với hạch toán truyền thống. Để triển khai thực hiện tốt KTMT tại Việt Nam cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Luật BVMT năm 2005 đã đưa ra định nghĩa về hoạt động BVMT và nêu ra 3 nhóm hoạt động chính, tuy nhiên lại chưa hề có một văn bản hướng dẫn thi hành luật quy định cụ thể. Điều này dẫn đến tình trạng có rất nhiều các hoạt động để có thể quy về hoạt động BVMT, tạo nên sự lúng túng trong việc nhận dạng và phân loại chi phí môi trường. Chính vì vậy, cần đưa ra các văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy định có liên quan đến môi trường và quản lý môi trường chặt chẽ và rõ ràng hơn nhằm tạo nền tảng cơ sở và hành lang pháp lý cho việc phát triển hạch toán quản lý môi trường một cách rõ ràng và cụ thể hơn.

Không chỉ nhà quản trị doanh nghiệp, mà ngay cả chính phủ, tổ chức tài chính, cộng đồng dân cư... đều quan tâm đến thông tin mà kế toán môi trường cung cấp, có thể đó là những thông tin về kế toán môi trường dưới dạng đo lường bằng tiền tệ, hay những báo cáo về kế toán môi trường dạng phi tiền tệ.

Thứ hai, công tác BVMT ở nước ta còn chưa được thực hiện một cách đầy đủ, nên các chi phí được tính toán dựa trên những khoản mục được chi ra từ các tổ chức đã không phản ánh đầy đủ những khoản mục thực tế mà tổ chức phải chi trả để đảm bảo môi trường theo tiêu chuẩn. Mặt khác, các khoản chi phí đều được tính vào giá thành sản phẩm, các DN không bóc tách theo mục đích chi mà toàn bộ được tập hợp vào các yếu tố chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề này đã tạo ra sức ép về môi trường chặt chẽ hơn, yêu cầu một sự thay đổi trong hệ thống hạch toán truyền thống ở cả góc độ vĩ mô và vi mô (ban hành các chuẩn mực về kế toán môi trường...).

Thứ ba, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005 nhưng đến nay vẫn chưa ban hành chế độ kế toán cho việc tổ chức KTMT trong DN. Chế độ hiện hành chưa có các văn bản hướng dẫn DN trong việc bóc tách và theo dõi được chi phí môi trường trong chi phí sản xuất kinh doanh, chưa có các tài khoản cần thiết để hạch toán các khoản chi phí môi trường cũng như doanh thu hay thu nhập trong trường hợp DN có hệ thống xử lý chất thải bán quyền thải ra môi trường cho các DN cùng ngành (nếu có).

Đồng thời, khoản chi phí và thu nhập này cũng chưa thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và chưa giải trình cụ thể trên thuyết minh báo cáo tài chính nên việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN là chưa đầy đủ, chưa xác định cụ thể trách nhiệm của DN đối với môi trường.

Thứ tư, khuyến khích các nghiên cứu ứng dụng nhằm thống nhất sự phân định hoạt động môi trường, qua đó đưa ra khái niệm và tiêu thức phân loại chi phí môi trường, làm căn cứ ghi nhận, đo lường, hạch toán và quản lý các chi phí này.

Bảo vệ môi trường và KTMT là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách, đồng thời cũng hết sức khó khăn và nhiều thách thức. KTMT sẽ là một công cụ cần thiết không chỉ giúp DN đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn cải thiện hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. KTMT đang là một phương pháp mới mẻ ở Việt Nam, do vậy, việc hiểu rõ bản chất, lợi ích và vai trò của KTMT trọng sự phát triển bền vững của xã hội nói chung và DN nói riêng là hết sức cần thiết. Việc vận dụng và phát triển KTMT cho Việt Nam sẽ góp phần quản lý chi phí, gia tăng lợi nhuận hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Tạo lập bước đi vững chắc cho các DN Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Tài liệu tham khảo:

1. PGS., TS. Phạm Đức Hiếu, PGS., TS. Nguyễn Thị Kim Thái, KTMT trong DN, NXB Giáo dục, 2012;

2. Trần Phước Hiền, Định hướng xây dựng kế toán quản lý môi trường ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, TP. Hồ Chí Minh, 2014;

3. Hoàng Thị Bích Ngọc, Kế toán quản trị môi trường – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán;
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
4. International Federation of Accountants, Environmental Management Accounting, International Guidance Document, USA, 2005;

5. Environmental Management Accounting Procedures and Principles. United Nations, New York, 2001;

6. Environmental Accounting Guidlines 2005, Ministry of the Environment, Japan;

7. Environmental Accounting – An Important part of an information system in the conditions when the company approach to the environment influences ít prosperity, Vadyba/Management.2006, Jaroslava HYRŠLOVÁ, Miroslav HÁJEK.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông Theo Tạp chí Tài chính kỳ II tháng 9/2016
[Read More...]


Lý luận và định hướng áp dụng ở Việt Nam theo nguyên tắc giá trị hợp lý



Luật Kế toán số 03/2003/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 đã tạo hành lang pháp lý cho lĩnh vực kế toán. Trải qua hơn 13 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, Luật cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần sửa đổi để đáp ứng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng của nền kinh tế. Việc ban hành và sửa đổi, bổ sung Luật Kế toán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là rất thiết thực và có ý nghĩa khoa học. Trong các nội dung sửa đổi, có nội dung quan trọng được bổ sung đó là quy định giá trị hợp lý.

Giá trị hợp lý và việc sử dụng giá trị hợp lý ở Việt Nam

Theo Luật Kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015, giá trị hợp lý là giá trị được xác định phù hợp với giá thị trường, có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc chuyển nhượng một khoản nợ phải trả tại thời điểm xác định giá trị.

Ở Việt Nam, giá trị hợp lý được đề cập đến từ hơn 10 năm nay.

Đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán 14 (VAS14) - Doanh thu và thu nhập khác: Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá. Giá trị hợp lý được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn ghi nhận ban đầu của tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.

Với phương pháp cụ thể, xác định giá trị hợp lý, ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán số 04 (VAS 04) - Tài sản cố định vô hình và Thông tư số 21/2006/TT- BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định giá trị hợp lý trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định giá trị hợp lý trong kế toán. Ngoài ra, giá trị hợp lý cũng được đề cập đến ở Chuẩn mực số 03 - Kế toán tài sản cố định hữu hình; Chuẩn mực chung số 01; Chuẩn mực số 06 - Thuê tài sản; chuẩn mực số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái; Chuẩn mực số 5- Bất động sản đầu tư.

Có thể thấy, Việt Nam đã từng bước được cập nhật theo phương pháp giá trị hợp lý, kết hợp kế toán theo giá gốc và đánh giá lại phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản và thời điểm lập báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, trong kế toán, giá gốc được quy định là một nguyên tắc cơ bản, vì thế vai trò của giá trị hợp lý còn khá mờ nhạt.

Giá trị hợp lý và việc sử dụng giá trị hợp lý đã có bước khởi đầu nhất định nhưng vẫn chưa thật sự được áp dụng chính thức trong kế toán, chưa có một định hướng rõ ràng về việc sử dụng giá trị hợp lý mặc dù giá trị hợp lý hiện nay đã được đưa vào Luật Kế toán số 88/2015/QH13. Trong hệ thống kế toán Việt Nam chưa sử dụng giá trị hợp lý để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày các khoản mục trên báo cáo theo những thay đổi của thị trường.

Quan điểm về giá trị hợp lý trên thế giới

Trên thế giới, giá trị hợp lý bắt đầu trở thành một cơ sở tính giá trong kế toán từ cuối những năm 1990, điều này được thể hiện qua các chuẩn mực kế toán quốc tế. Trải qua thời gian, khái niệm cũng như việc đo lường giá trị hợp lý được hoàn thiện rõ ràng và cụ thể hơn.

Trước khi các chuẩn mực kế toán về giá trị hợp lý được ban hành, định nghĩa giá trị hợp lý được đề cập trong các chuẩn mực kế toán cụ thể của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế  - IASB. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế về Bất động sản đầu tư IAS 40, giá trị hợp lý là mức giá mà một tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một giao dịch hoàn toàn ngang giá.

Theo Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB), giá trị hợp lý được định nghĩa trong chuẩn mực kế toán FAS 157 ban hành năm 2006: Giá trị hợp lý là mức giá có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc phải trả khi thanh toán một khoản nợ trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày định giá.

Giá trị hợp lý rất cần thiết trên cả phương diện quốc tế và với tất cả các nước vì các chuẩn mực kế toán quốc tế yêu cầu hoặc cho phép doanh nghiệp (DN) xác định hoặc trình bày giá trị hợp lý về tài sản/nợ phải trả hoặc các công cụ vốn của DN. Tuy nhiên, do các chuẩn mực này đã ban hành từ lâu nên các yêu cầu về xác định giá trị hợp lý cũng như trình bày thông tin về việc xác định giá trị hợp lý chưa nhất quán.

Trong nhiều trường hợp, chuẩn mực kế toán quốc tế không nêu rõ mục tiêu xác định cũng như trình bày giá trị hợp lý. Theo đó, một số chuẩn mực kế toán được ban hành đã đưa ra các hướng dẫn chưa đầy đủ về cách xác định giá trị hợp lý, trong khi đó một số chuẩn mực khác có hướng dẫn chi tiết nhưng lại không nhất quán. Chính vì vậy, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13 - IFRS 13 - Xác định giá trị hợp lý ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/1/2013 để khắc phục, hạn chế sự không nhất quán của các chuẩn mực khác.

Theo IFRS 13, giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán một tài sản hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả trong một giao dịch thị trường có trật tự giữa các thành phần tham gia thị trường tại ngày đo lường. Khái niệm giá trị hợp lý trong chuẩn mực này nhấn mạnh giá trị hợp lý được xác định trên cơ sở giá thị trường, không phải theo DN.

Ở Việt Nam, trong kế toán, giá gốc được quy định là một nguyên tắc cơ bản, vì thế vai trò của giá trị hợp lý còn khá mờ nhạt. Giá trị hợp lý và việc sử dụng giá trị hợp lý đã có bước khởi đầu nhất định nhưng vẫn chưa thật sự được áp dụng chính thức trong kế toán.

Khi xác định giá trị hợp lý, DN sử dụng giả định mà các bên tham gia thị trường sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ phải trả theo điều kiện thị trường, bao gồm các giả định về rủi ro. Do đó, việc DN có ý định nắm giữ một tài sản hay chuyển trả hoặc hoàn tất một khoản nợ phải trả không có liên quan đến việc xác định giá trị hợp lý của DN đó.
IFRS quy định khi xác định giá trị hợp lý, DN phải xác định rõ:

- Tài sản nợ phải trả cần xác định giá trị hợp lý;

- Đối với tài sản phi tài chính, cần tần suất sử dụng tài sản cao nhất và tốt nhất đối với tài sản và tài sản đó có được sử dụng chung với các tài sản khác không hay được sử dụng độc lập;

- Thị trường giao dịch tự nguyện đối với tài sản hay nợ phải trả;

- Kỹ thuật định giá phù hợp trong việc xác định giá trị hợp lý. Kỹ thuật định giá cần tối đa hoá việc sử dụng các yếu tố đầu vào có liên quan quan sát được và tối thiểu hoá các yếu tố đầu vào không quan sát được. Các yếu tố đầu vào này cần phải nhất quán với các yếu tố mà bên tham gia thị trường sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ phải trả.
IFRS 13 cũng đưa ra 3 cấp độ xác định giá trị hợp lý, bao gồm:

- Cấp độ 1: Các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết của các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất trong các thị trường hoạt động mà tổ chức có thể thu thập tại ngày đo lường;

- Cấp độ 2: Các dữ liệu tham chiếu có thể thu thập cho tài sản hay nợ phải trả, trực tiếp (giá thị trường) hay gián tiếp (xuất phát từ giá thị trường), khác giá niêm yết của cấp độ 1;

- Cấp độ 3: Dữ liệu tham chiếu không sẵn có tại ngày đo lường, DN phát triển các dữ liệu tham chiếu bằng cách sử dụng các thông tin tốt nhất đã có, mà có thể bao gồm dữ liệu riêng của DN.

Như vậy, IFRS 13 đã phát triển nhất quán và giảm thiểu độ phức tạp bằng cách cung cấp, một định nghĩa chính thức về giá trị hợp lý, thống nhất phương pháp đo lường giá trị hợp lý và yêu cầu công bố thông tin để sử dụng trong hệ thống chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế.
Mục tiêu chủ yếu của báo cáo tài chính là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng.

Nhìn từ góc độ này, báo cáo tài chính cần cung cấp các thông tin về quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, sự kết hợp giữa các loại giá sử dụng trên báo cáo tài chính nhằm mục tiêu cung cấp thông tin đầy đủ và đa dạng, đáp ứng yêu cầu thông tin của người sử dụng, dẫn tới sự ra đời của phương pháp kế toán theo giá trị hợp lý.

Định hướng áp dụng ở Việt Nam

Hiện nay, trong dư luận nổi lên hai luồng quan điểm. Một luồng ủng hộ giá trị hợp lý và một luồng phản biện giá trị hợp lý.

Các quan điểm ủng hộ giá trị hợp lý trong kế toán đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy, giá trị hợp lý là cơ sở tính giá phù hợp nhất trong điều kiện hiện nay - giai đoạn của sự phát triển, giai đoạn của công nghệ thông tin, giai đoạn của hội nhập kinh tế. Các nhà đầu tư, các chủ thể kinh tế luôn muốn nắm bắt và cập nhật những thông tin tài chính chính xác nhất, nhanh nhất và phù hợp nhất với hiện tại, được tiếp cận trên cơ sở thị trường.

Chính vì vậy, mục tiêu của thông tin kế toán tài chính đã được xác lập khá rõ, đáp ứng yêu cầu ra quyết định kinh tế của các chủ thể có lợi ích liên quan. Theo đó, các chủ thể đặt trọng tâm vào dự báo  dòng tiền tương lai của DN. Thông tin trên cơ sở giá trị hợp lý được chứng minh là thích hợp cho việc ra quyết định trên cơ sở dự báo về dòng tiền tương lai của DN.

Các cơ sở tính giá khác như giá gốc và giá hiện hành… đều có tính cá biệt, đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện cụ thể của DN nhưng giá trị hợp lý chịu ảnh hưởng của thị trường, vì vậy với các tài sản tương tự được phản ánh bởi các DN khác nhau trên cùng thị trường thì giá trị hợp lý được xác định như nhau. Do đó, kế toán theo giá trị hợp lý đảm bảo tính thích hợp, khách quan, trung thực, so sánh.

Quan điểm không ủng hộ giá trị hợp lý lại cho rằng, tính tin cậy của thông tin đặc biệt là trong trường hợp không có dữ liệu quan sát trực tiếp về giá cả của thị trường để xác định giá trị hợp lý. Tính chủ quan và thiếu độ tin cậy về việc đo lường giá trị hợp lý có nguy cơ cao khi thực hiện các điều chỉnh trên cơ sở xét đoán và giả định của đơn vị báo cáo. Mặt khác, cơ sở pháp lý và những chi phí bỏ ra để xác định giá trị hợp lý ở những nước đang phát triển là rất khó khăn. Nếu các DN đều niêm yết trên thị trường chứng khoán thì tính khả thi cao bởi vì cách tiếp cận và kỹ thuật xác định giá trị hợp lý khi áp dụng đối với công cụ tài chính.

Tuy nhiên, trên thực tế các khoản mục này chiếm một tỷ trọng không cao trên báo cáo tài chính của DN, đặc biệt là các DN phi tài chính. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam và các nước mới nổi thì chưa thật phù hợp. Quan điểm không ủng hộ giá trị hợp lý đã đưa ra những hệ quả do áp dụng giá trị hợp lý ở các thị trường tài chính lớn như Mỹ và Liên minh châu Âu là một nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế.

Đặc biệt, trong trường hợp hoạt động của thị trường không hiệu quả, có thể dẫn đến thông tin tài chính bị “bóp méo” ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định của người sử dụng thông tin.

Theo xu hướng phát triển chung của thế giới thì giá trị hợp lý rất thiết thực và nên áp dụng. Bởi trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, môi trường kinh doanh luôn thay đổi và vấn đề lạm phát là tất yếu, thông tin về giá trị tài sản trên báo cáo tài chính nếu chỉ trình bày theo giá gốc sẽ không thích hợp đối với các đối tượng sử dụng thông tin. Trong bối cảnh đó, nhiều hệ thống định giá khác nhau đã hình thành và có tác động nhất định tới thực tiễn kế toán.

Tuy nhiên, các hệ thống này vẫn chưa thuyết phục hoàn toàn được xã hội và các tổ chức lập quy. Trên cơ sở kế thừa các phương pháp kế toán trước đó, kế toán theo giá trị hợp lý đang  là xu hướng phát triển trong những năm tới.

Để đảm bảo hệ thống kế toán Việt Nam có sự hài hoà và tương thích với hệ thống kế toán các nước, tất yếu phải nghiên cứu, sử dụng các cơ sở tính giá khác ngoài giá gốc, trong đó có giá trị hợp lý. Việc sử dụng giá trị hợp lý phù hợp với chuẩn mực và  thông lệ quốc tế không những đáp ứng yêu cầu hội nhập, các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế mà còn đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống kế toán. Theo đó, hệ thống khung pháp lý về kế toán của Việt Nam cần hoàn thiện theo hướng sau:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa - Việt Nam cần quy định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm ban hành các quy định về nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện để xác định các loại tài sản được đưa vào danh mục tài sản được điều chỉnh theo giá trị hợp lý, cơ sở xác định gía trị hợp lý; phương pháp kế toán theo giá hợp lý…

- Trên cơ sở Luật Kế toán mới ban hành, các cơ quan có trách nhiệm cần ban hành hướng dẫn áp dụng giá trị hợp lý, chuẩn hoá các định nghĩa giá trị hợp lý, nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện để xác định các loại tài sản được đưa vào danh mục tài sản được điều chỉnh theo giá trị hợp lý, cơ sở xác định giá trị hợp lý, phương pháp kế toán theo giá trị hợp lý, những nội dung, phạm vi các thông tin cần công bố trên báo cáo tài chính. Những hướng dẫn và giải pháp này sẽ là cơ sở quan trọng để từng bước tạo lập hành lang pháp lý cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán, trước khi có một chuẩn mực chính thức về đo lường giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên - Việt Nam cần bổ sung, cập nhật, nội dung các chuẩn mực kế toán hiện hành có liên quan đến giá trị hợp lý, đặc biệt là các chuẩn mực liên quan đến những tài sản nhạy cảm theo sự biến động thị trường như các loại chứng khoán đầu tư, các tài sản tài chính khác.

- Bên cạnh việc bổ sung, cập nhật các chuẩn mực kế toán đã ban hành phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế, trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần tiếp tục và hoàn thiện việc ban hành các chuẩn mực còn thiếu, đặc biệt là cần ban hành chuẩn mực đo lường giá trị hợp lý phù hợp với điều kiện áp dụng Giá trị hợp lý theo IFRS 13.

- Từng bước hoàn chỉnh một hệ thống thị trường hoạt động; đồng bộ và minh bạch hóa hành lang pháp lý về kinh doanh. Thị trường hàng hóa và thị trường tài chính Việt Nam phải được xây dựng ngày càng “hoạt động” để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm các dữ liệu tham chiếu trong đo lường giá trị hợp lý.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàng mai Theo Tạp chí tài chính

[Read More...]


Ngành kinh doanh và Kế toán có dễ xin việc sau khi ra trường?



Trong khi chuyên ngành khoa học máy tính đang cần nhiều nhân lực, thì ngành kinh doanh và kế toán vẫn dễ xin việc nhất.

Một bằng đại học - đối với nhiều người - là các quyết định tài chính lớn đầu tiên, và chọn đúng chuyên ngành học sẽ giúp bạn cải thiện cơ hội phát triển sự nghiệp trong tương lai một cách đáng kể.

Ngày nay, học sinh đã biết cách tìm hiểu về thị trường lao động trước khi chọn chuyên ngành học của mình, ông Jeff Strohl, giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Đại học Georgetown về Giáo dục và lực lượng lao động cho biết.

"Quyết định mình sẽ học chuyên ngành nào rất quan trọng vì nó không những ảnh hưởng đến chi phí giáo dục mà còn ảnh hưởng đến tương lai sự nghiệp sau này của chính sinh viên đó."



Ảnh minh họa.

Theo một cuộc khảo sát do Hiệp hội Trường Cao đẳng và sử dụng lao động Mỹ về việc làm dự kiến ​​cho sinh viên tốt nghiệp đại học gần đây thì quản lý thông tin và tiếp thị là hai chuyên ngành có nhu cầu tuyển dụng lao động cao. Và những nghề nghiệp cử nhân tìm kiếm nhiều nhất sau khi nhận được bằng là kế toán, khoa học máy tính, tài chính, quản trị kinh doanh và kỹ thuật cơ khí.

Dự đoán tỷ lệ % những chuyên ngành sinh viên có thể tìm việc ngay sau khi ra trường :

1 Kế toán 54,4

2 Khoa học máy tính 53,9

3 Tài chính 50,6

4 Quản trị Kinh doanh / Quản lý 47,8

5 Cơ khí 46,1

6 Khoa học và Hệ thống thông tin 41,7

7 Quản trị hệ thống thông tin

8 Kỹ thuật điện 39,4

9 Logistics / Supply 37,2

10 Kinh tế 35.6

11 Marketing 35,6

Nguồn: Job Outlook 2016, Hiệp hội các Trường Cao Đẳng và sử dụng lao động Mỹ

Trong việc lựa chọn một trường đại học lớn, đây là một vài cách để đánh giá triển vọng việc làm sau khu tốt nghiệp.

1. Xem xét nhu cầu tuyển dụng lao động dự kiến: "Hãy xem xét các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong thời điểm bạn ra trường."

Kế toán, ví dụ, dự kiến ​​sẽ tăng 11 % nhu cầu vào năm 2024, theo số liệu mới nhất được công bố của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, thêm 142.400 việc làm từ 2014 đến 2024.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Nhu cầu tuyển dung chuyên ngành thông tin quản lý khoa học và các lĩnh vực như quản lý dữ liệu là những lĩnh vực khác mà sẽ tiếp tục tăng cao với sự bùng nổ của việc sử dụng dữ liệu trong thế giới công nghệ.

Máy tính và hệ thống quản lý thông tin dự kiến sẽ tăng nhu cầu thêm 15% trong từ năm ​​ 2014 đến năm 2014 tức là thêm 50.000 lao động vào lĩnh vực này.

2. Xem xét dữ liệu việc làm sinh viên mới tốt nghiệp gần đây: Rất nhiều trường đại học đã công bố mức lương sau khi ra trường của các sinh viên. Bạn có thể tham khảo.

dịch vụ chữ ký số tại thanh xuân 3. Tính toán tài chính: "Với sinh viên mới ra trường cơ hội được tuyển dụng là rất quan trọng", hãy cân nhắc về tài chính, nếu bạn theo học một ngôi trường có học phí cao nhưng cơ hội đào tạo tốt, cơ hội việc làm với mức lương rộng mở thì bạn nên theo học hơn những ngôi trường khác.

Không ai có thể dự đoán chính xác tiềm năng thu nhập của bạn được. Tất cả phụ thuộc vào bạn, nếu bạn có học ngôi trường đào tạo tốt nhưng bạn không học tốt, không làm việc tốt thì bạn không thể nhận được mức lương hậu hĩnh.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo Kênh 14

[Read More...]


Hội nhập quốc tế nhìn từ chuẩn mực kế toán



Việc phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần phải triển khai để đáp ứng yêu cầu mới của nền kinh tế.

Để làm được điều này, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án đưa Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào Việt Nam và cập nhật Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), tiến tới xây dựng và ban hành mới Chuẩn mực Báo cáo tài chính Việt Nam (VFRS).

Những thuận lợi và khó khăn

Không sự chuyển đổi nào được diễn ra dễ dàng đơn giản. Việc chuyển đổi từ VAS sang một chuẩn mực mới mẻ như IFRS luôn là một thách thức đối với các thói quen, kiến thức có sẵn.

Về phía Bộ Tài chính, cơ quan này cho rằng khi áp dụng IFRS, chất lượng của báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ được cải thiện một cách rõ rệt thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính nhiều thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý, điều hành và đầu tư.

IFRS yêu cầu các giao dịch phải được phản ánh theo bản chất, phù hợp với cách thức vận hành hơn là tên gọi hay hình thức pháp lý của chúng. Điều này sẽ giúp cho kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh khách quan, trung thực, doanh nghiệp không thể tùy tiện giấu lãi hoặc lỗ theo ý muốn chủ quan của mình. Những thông tin về giá trị hợp lý, giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi, giá trị thuần có thể thực hiện được, yêu cầu ghi nhận kịp thời các khoản tổn thất, đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ… giúp đánh giá đúng năng lực tài chính, tạo cho doanh nghiệp có đủ nguồn lực thanh toán, ổn định và cân đối tài chính trong tương lai.

Việc áp dụng IFRS là một yếu tố để quốc tế công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Vướng mắc khi áp dụng IFRS là tâm lý e ngại, muốn giấu giếm sự thật về sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp nhằm mục đích thao túng giá cổ phiếu, gọi vốn vay… Ngoài ra, nguồn nhân lực Việt Nam nói chung hiện thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc thực hành IFRS. Ngay cả các trường đại học cũng chưa được dạy cả về mặt nội dung cũng như phương pháp nghiên cứu IFRS. Thị trường tài chính Việt Nam cũng chưa đủ phát triển để có thể đánh giá một cách tin cậy, toàn diện các thông tin về giá trị hợp lý…

Lý do chọn lựa IFRS

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Các chuyên gia, điểm khác biệt lớn giữa VAS và IFRS là VAS hạch toán theo nguyên tắc giá gốc, còn IFRS theo nguyên tắc giá thị trường (giá trị hợp lý). IFRS được xây dựng để áp dụng cho các nền kinh tế phát triển, khi mà các yếu tố thị trường đã phát triển đồng bộ, có thị trường thuận lợi cho định giá các loại tài sản theo giá thị trường.

Hiện có nhiều chuẩn mực kế toán nổi tiếng được áp dụng trên thế giới như IFRS, GAAP, CPA. Tuy nhiên, IFRS là chuẩn mực được áp dụng rộng rãi nhất. Tương tự như mức độ phổ biến của tiếng Anh trên toàn cầu. Việc theo IFRS vì vậy là một lựa chọn phù hợp cho quá trình hội nhập.

Khi trao đổi với người viết, CEO của một doanh nghiệp khởi nghiệp cho biết, công ty họ có ý định niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế như là cách để “đền đáp” công ơn của những nhà đầu tư rót vốn từ giai đoạn sơ khai. Để làm điều đó, một doanh nghiệp mới sẽ có lợi thế rõ rệt vì hệ thống sổ sách kế toán của công ty hết sức “sạch sẽ”, chuẩn mực kế toán nào cũng là mới mẻ, dù là VAS hay IFRS!

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình Tại Việt Nam, IFRS đang được khuyến khích và các doanh nghiệp có thể tự nguyện áp dụng.

Tập đoàn Bảo Việt là một trong các đơn vị hiếm hoi đã sớm áp dụng IFRS từ năm 2009. Năm 2015, báo cáo theo IFRS của doanh nghiệp này cho thấy lợi nhuận sau thuế của Bảo Việt đạt 1.071 tỷ đồng, thấp hơn 104 tỷ đồng so với báo cáo theo VAS. Không phải ai cũng đủ “dũng cảm” như Bảo Việt. Ngoài Bộ Tài chính, Bảo Việt còn có cổ đông lớn là Sumitomo Life (trước đó là HSBC), việc áp dụng IFRS ngoài mục đích tự thân của Bảo Việt, còn là yêu cầu của nhà đầu tư nói chung, cổ đông lớn nước ngoài nói riêng.

Theo lộ trình, đến năm 2023 - 2025, Bộ Tài chính sẽ yêu cầu tuân thủ hoàn toàn theo IFRS. Việc chuyển đổi sớm vì vậy sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập.
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông Theo Báo đấu thầu

[Read More...]


Các chính sách Tài chính - Kế toán mới nổi bật của Nhà nước (cập nhật tháng 03/2017)



Hiện nay, MISA đã tiến hành tổng hợp các chính sách pháp luật có liên quan và thay đổi trong tháng 03/2017. Quý khách hàng có thể tham khảo các chính sách thay đổi như sau:

I.Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2016

Ngày 03/3/2017, Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2016. Theo đó:

1. Quyết toán thuế TNDN, đề cập đến các vấn đề sau:
Các căn cứ pháp lý để xác định số thuế TNDN phải nộp khi quyết toán thuế TNDN năm 2016.
Những lưu ý quan trọng khi quyết toán thuế TNDN năm 2016.
Hồ sơ khai quyết toán thuế TNDN năm 2016.
2. Quyết toán thuế TNCN, đề cập đến các vấn đề sau:

Chính sách thuế TNCN, công tác chỉ đạo địa phương, công tác tuyên truyền, hỗ trợ kê khai điện tử.
Căn cứ pháp lý thực hiện quyết toán thuế TNCN 2016.
Chính sách Quyết toán thuế TNCN năm 2016.
Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2016.
Hình thức Quyết toán thuế TNCN năm 2016.
Giảm trừ gia cảnh năm 2016.
Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN 2016.
Với hướng dẫn này, phần nào sẽ hỗ trợ cá nhân, tổ chức thuận lợi hơn trong việc quyết toán thuế TNDN, TNCN năm 2016.

Xem toàn văn văn bản - Xem lược đồ các văn bản liên quan - Tải về


II. Bộ Tài chính ban hành Thông tư 20/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 của Thông tư 195/2015/TT-BTC về thuế tiêu thụ đặc biệt

Ngày 06/3/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 20/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 của Thông tư 195/2015/TT-BTC về thuế tiêu thụ đặc biệt (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 130/2016/TT-BTC).

Theo đó, có điểm mới đáng chú ý về việc khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp ở khâu nhập khẩu khi xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp bán ra trong nước.

Cụ thể, đối với số thuế tiêu thụ đặc biệt không được khấu trừ thuế, người nộp thuế được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Hiện nay, vấn đề này được quy định như sau: “Trường hợp đặc biệt đối với số thuế tiêu thụ đặc biệt không được khấu trừ hết do nguyên nhân khách quan bất khả kháng, người nộp thuế được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp”.

Thông tư 20/2017/TT-BTC bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/4/2017.

Xem toàn văn văn bản - Xem lược đồ các văn bản liên quan - Tải về

III. Thông tư 04/2017/TT-BCT sửa đổi Thông tư 20/2011/TT-BCT quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu xe ô tô chở người loại từ 09 chỗ ngồi trở xuống có hiệu lực từ ngày 09/3/2017.

Theo đó khi nhập khẩu ô tô dưới 9 chỗ chỉ cần nộp bổ sung 01 bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của 01 trong 02 loại giấy sau:
Giấy chỉ định hoặc Giấy ủy quyền là nhà nhập khẩu, nhà phân phối của chính hãng sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó hoặc;
Hợp đồng đại lý của chính hãng sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó đã được cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật.
Xem toàn văn văn bản tại đây


IV. Dự thảo nghị định tăng thêm 7,4% lương hưu, trợ cấp BHXH từ ngày 01/7/2017

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa Theo dự thảo Nghị định, từ ngày 1/7/2017, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng sẽ tăng thêm 7,4 % đối với nhóm các đối tượng đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng trước ngày 1/7/2017.

Bộ LĐ-TB&XH đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định trình Chính phủ ban hành quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc. Nếu được thông qua, Nghị định sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2017.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng V. Thông tư 14/2017/TT-BTC hướng dẫn quản lý, sử dụng phí bảo đảm hàng hải thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ích bảo đảm an toàn hàng hải do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/04/2017 và áp dụng từ năm tài chính 2017; thay thế Thông tư số 119/2010/TT-BTC ngày 10/08/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thu, quản lý, sử dụng nguồn thu phí bảo đảm hàng hải và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ích bảo đảm an toàn hàng hải.

Xem toàn văn văn bản tại đây.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm MISA

[Read More...]


Điểm chuẩn Ngành kế toán - Chỗ cao ngất ngưởng, nơi thấp lè tè



Nếu như trước đây, Kế toán - Kiểm toán hút nhân lực với thu nhập cao, thì hiện nay, đây là một trong ngành dư thừa lao động. Thí sinh nên cân nhắc kỹ để tránh những ngành học đang thừa nhân lực

Bạn Thùy Dương hỏi: Năm nay em muốn thi ngành Kế toán nhưng vẫn lo lắng không biết ngành kế toán sẽ làm gì? Những năm gần đây, thí sinh đổ xô thi vào ngành này, sao điểm chuẩn cao mà  thất nghiệp vẫn nhiều?

Trả lời: Nếu như trước đây, Kế toán - Kiểm toán hút nhân lực với thu nhập cao, thì hiện nay, đây là một trong ngành dư thừa lao động. Hiện trạng ngành kế toán thất nghiệp nhiều, phải làm trái ngành. Tuy nhiên, chỉ tiêu tuyển sinh năm 2017 của các trường ĐH, CĐ, TCCN vẫn lên đến hàng chục ngàn sinh viên.

Lý giải hiện tượng thất nghiệp, nhiều tổ chức cho rằng hiện lượng sinh viên ra trường ngành Kế toán là lớn nhất. Vậy nhu cầu nhân lực sẽ phải dư thừa. Thừa số lượng nhưng thiếu chất lượng.

Theo thông tin phản hồi từ các doanh nghiệp tuyển dụng nhân sự cho bộ phận kế toán có đến 80% – 90% những sinh viên được tuyển dụng chưa có khả năng tiếp cận ngay được với công việc của một “Kế toán” thực sự.

Thực tế, những sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học được trang bị rất tốt về lý thuyết và nguyên tắc hạch toán kế toán nhưng lại không được thực hành nhiều nên kỹ năng làm việc còn nhiều hạn chế.

Công việc của 1 kế toán viên thật sự ở Doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là hạch toán đúng với quy định của chế độ kế toán và tuân thủ tốt chuẩn mực kế toán mà còn phải tuân thủ đúng các luật thuế và các luật chuyên ngành khác.

Nhưng chính luật thuế và các luật chuyên ngành khác liên quan đến công tác kế toán thì những sinh viên mới ra trường lại nắm chưa thật chắc và đặc biệt là chưa có kinh nghiệm để xử lý sao cho có lợi nhất cho phía Doanh nghiệp.

Khối kiến thức chung mang nặng tính lý thuyết giáo điều, trong khi khối kiến thức chuyên ngành lại bị xé lẻ. Các doanh nghiệp thì lại muốn tuyển những người có thể làm công việc chuyên môn được ngay để giảm bớt chi phí và thời gian đào tạo.

Số lượng học viên trong một lớp quá lớn (30 đến 100 sinh viên/ lớp), trong khi đó chỉ có 1 giáo viên hướng dẫn nên việc đào tạo kỹ năng làm việc ở các trường là hết sức hạn chế.

Chương trình học tập cần cho phép sinh viên làm chủ việc học – dù là học tập cá nhân hay theo nhóm – khuyến khích tư duy độc lập và giải quyết vấn đề thông qua chuỗi các hoạt động liên quan tới tài chính và kinh tế, thông qua kĩ năng đọc hiểu và soạn thảo trong các môn học chuyên đề; hoặc trong các buổi thảo luận có hướng dẫn và các buổi thuyết trình.  Những công việc cụ thể mà một nhân viên kế toán có thể đảm nhiệm:

- Kiểm toán : Kiểm tra sổ sách kế toán và báo cáo tài chính.

- Phân tích ngân sách : Có trách nhiệm phát triển và quản lý các kế hoạch tài chính của một doanh nghiệp.

- Tài chính : Lập báo cáo tài chính dựa trên sổ sách kế toán tổng hợp và tham gia vào việc đưa ra những quyết định tài chính quan trọng có liên quan sát nhập và mua lại công ty.

- Kế toán quản trị : Phân tích cơ cấu của các doanh nghiệp.

- Thuế: Đóng vai trò như một cơ quan thuế có đăng ký lập các báo cáo và tờ khai thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp.

- Rủi ro kinh doanh: Xác định rủi ro kinh doanh về mặt chiến lược về hoạt động, đưa ra đánh giá về hiệu quả điều hành doanh nghiệp và triển khai các phương án phòng trừ rủi ro kinh doanh.

- Kế toán môi trường: Giải quyết các vấn đề giúp hoạt động của công ty vừa có thể sinh lợi nhuận lại vừa đảm bảo yêu cầu thân thiện với môi trường .

- Kế toán pháp lý: Xác định và theo dõi các hành vi gian lận, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại điện tử, những tư liệu này sẽ được coi là bằng chứng để giải quyết các vụ việc liên quan đến pháp luật.

- Chuyên gia kế toán quốc tế: Xử lý các giao dịch xuyên biên giới, các hợp đồng ngoại thương và các hoạt động giao thương quốc tế.

Dự đoán của các chuyên gia về nghề nghiệp cho biết, đến năm 2018, mức độ tăng trưởng của ngành kế toán còn lên đến 22%.

Hiện nay, có nhiều người thất nghiệp nhưng những vị trí cần năng lực chuyên môn cao như giám đốc tài chính, kế toán trưởng,…của nhiều doanh nghiệp hiện được giao cho người nước ngoài với mức lương khủng, giao động từ 100 đến 200 triệu một tháng.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Bạn Kim Thoa hỏi: Nếu được 24 điểm, em nên đăng ký vào trường nào để đỗ ngành Kế toán?

Trả lời: Hiện nay, tính riêng khu vực Hà Nội, có khoảng 30 trường đại học đào tạo ngành Kế toán - Kiểm toán. Dù các thống kê vài năm gần đây cho thấy ngành này đang dư thừa nhân lực, các trường vẫn tuyển với chỉ tiêu ở mức cao.

Các trường top đầu như ĐH Ngoại thương, ĐH Kinh tế quốc dân, HV Tài chính, HV Ngân hàng,… điểm đầu vào của ngành Kế toán cao ngất ngưởng, dao động từ 20-26 điểm.

Các trường khác cũng đào tạo nhưng điểm chuẩn thấp chỉ từ điểm sàn trở lên (15-20 điểm): ĐH Công đoàn, ĐH Kinh tế kỹ thuật Công nghiệp, ĐH Dân lập Thăng Long, ĐH Đại Nam,…

Các trường đào tạo ngành này khá lớn.

dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm Cụ thể, năm 2017, Đại học Công nghiệp Hà Nội tuyển sinh ngành Kế toán với 780 chỉ tiêu, lớn thứ nhất trong số 30 ngành đào tạo đại học của trường.

ĐH Thương Mại tuyển ngành Kế toán với 350 chỉ tiêu.

Đại học Ngoại thương tuyển sinh ngành Kế toán là 150 chỉ tiêu.

Năm 2017, ĐH Kinh tế Quốc dân  tuyển ngành Kế toán với 400 chỉ tiêu.

Theo thống kê điểm chuẩn của ngành Kế toán ở trường ĐH Kinh tế quốc dân trong 5 năm trở lại đây, điểm chuẩn dao động từ 24-26 điểm.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông Theo 24h

[Read More...]


Mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực kế toán được đề xuất thế nào?



Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 100.000.000 đồng... đó là mức xử phạt được Bộ Tài chính đề xuất tại dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.

Dự thảo nêu rõ đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo; phạt tiền.

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 100.000.000 đồng. Đối với tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm hành chính.

Bên cạnh đó, thu hồi giấy phép, đình chỉ hành nghề, kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.

Các hình thức phạt bổ sung trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán như sau: Tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hành nghề, kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán; đình chỉ việc tổ chức cập nhật kiến thức.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác.

Dự thảo đề xuất cụ thể mức xử phạt hành vi vi phạm quy định về chứng từ kế toán. Theo đó, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Sử dụng chứng từ kế toán khi chưa đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật về kế toán; tẩy xóa, sửa chữa chứng từ kế toán; ký chứng từ bằng mực màu đỏ, mực phai màu; ký chứng từ bằng đóng dấu chữ ký khắc sẵn; chứng từ chi tiền không ký theo từng liên.

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Lập chứng từ kế toán không đủ số liên theo quy định của mỗi loại chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký; ký chứng từ kế toán mà không có thẩm quyền ký hoặc không được ủy quyền ký; chữ ký của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký...

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Cũng theo dự thảo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Giả mạo, khai man chứng từ kế toán; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man chứng từ kế toán; lập chứng từ kế toán có nội dung các liên không giống nhau trong trường hợp phải lập chứng từ kế toán có nhiều liên cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; lập nhiều lần chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông Theo tapchitaichinh

[Read More...]


Quy định thoáng với kế toán của doanh nghiệp siêu nhỏ



Theo cả hai phương án có trong hai dự thảo thông tư về chế độ kế toán đối với doanh nghiệp siêu nhỏ đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến thì các doanh nghiệp này được phép bố trí người phụ trách kế toán mà không bắt buộc phải có kế toán trưởng, người thân của ban lãnh đạo công ty cũng không bị cấm làm kế toán như lâu nay...

doanh nghiệp siêu nhỏ không được khấu trừ thuế


>> Vì sao doanh nghiệp siêu nhỏ không được khấu trừ thuế?
>> Đề xuất chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ
>> Thông tư số 132/2018/TT-BTC áp dụng chế độ kế toán đối với doanh nghiệp siêu nhỏ

Đây là lần đầu tiên Bộ Tài chính đưa ra những phương án cụ thể về chế độ kế toán cho đối tượng doanh nghiệp này. Lâu nay, các doanh nghiệp thực hiện chung một chế độ kế toán với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ngoài việc không bắt buộc phải có kế toán trưởng, những đối tượng là người thân của ban lãnh đạo công ty siêu nhỏ (gồm người đại diện theo pháp luật, giám đốc, phó giám đốc, người phụ trách công tác tài chính – kế toán, kế toán trưởng) như cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; anh chị em ruột không bị cấm làm kế toán như lâu nay.

Thậm chí, người đang làm quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ hoặc người được giao thường xuyên mua, bán tài sản của doanh nghiệp cũng có thể được bố trí làm kế toán.

Ngoài ra, các doanh nghiệp siêu nhỏ cũng có quyền thuê đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán để làm kế toán hoặc làm kế toán trưởng, phụ trách kế toán.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Những đề xuất này được đánh giá là có tính chất mở và nếu đưa vào áp dụng sẽ giải quyết được điểm nghẽn với các doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh bấy lâu nay. Theo đó, một trong những lý do khiến hộ kinh doanh ngán ngại chuyển đổi lên doanh nghiệp là phải áp dụng chế độ kế toán chuẩn mực. Trong đó, có khá nhiều yêu cầu bắt buộc khiến họ phải đầu tư bài bản, khác với cách làm vốn có. Trong khi đó, các doanh nghiệp siêu nhỏ cũng cảm thấy khó đáp ứng các điều kiện cũng như có những yêu cầu không thực sự phù hợp, tương thích với họ trong quá trình vận hành.

Trước đề xuất này, lãnh đạo Bộ Tài chính cũng đã có nhiều lần đề cập về việc sẽ tìm ra các phương án về chế độ kế toán đặc biệt theo tinh thần đơn giản, dễ áp dụng nhất cho các đối tượng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận thủ đức Bên cạnh các điều kiện mở về người làm kế toán, Bộ Tài chính cũng đề xuất thêm nhiều quy định khác theo tinh thần giảm bớt các thủ tục cho doanh nghiệp siêu nhỏ.

Nếu được thông qua thì doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ được áp dụng chế độ kế toán riêng này từ đầu năm sau, 2018.

>> Phần mềm kế toán MISA SME 2019 mới nhất cho doanh nghiệp siêu nhỏ

dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm MISA

[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page