Browse »
Home » Archives for tháng 3 2020
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 53/2016/TT-BTC bổ sung hướng dẫn một số nghiệp vụ liên quan đến hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Trước thực tế một số doanh nghiệp có phát sinh nhiều giao dịch liên quan đến tỷ giá hối đoái cho rằng việc thực hiện hạch toán tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính là tương đối phức tạp, tốn nhiều thời gian cho công tác kế toán tại doanh nghiệp nhưng hiệu quả mang lại chưa tương xứng với chi phí tổ chức công tác kế toán tại đơn vị.
Nhận thấy ý kiến trên là phù hợp với thực tế tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp và nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp trong thực hiện hạch toán chênh lệch tỷ giá, góp phần hạn chế chi phí phát sinh khi triển khai hướng dẫn hạch toán chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 200/2014/TT-BTC đúng với tin thần chung của Bộ Tài chính.
dịch vụ chữ ký số tại bắc ninh
Ngày 21/03/2016, Bộ Tài chính vừa ký ban hành Thông tư số 53/2016/TT-BTC bổ sung hướng dẫn một số nghiệp vụ liên quan đến hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT-BTC.Theo đó, Doanh nghiệp được phép lựa chọn hoặc vẫn áp dụng hạch toán chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 200/2014/TT-BTC hoặc hạch toán chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn tại Thông tư 53/2016/TT-BTC.
Chi tiết Thông tư 53/2016/TT-BTC download tại đây!
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
MISA
[Read More...]
Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức bộ máy kế toán ngân sách nhà nước khác nhau phù hợp với đặc điểm và tập quán của từng quốc gia. Vì vậy, việc tổ chức hệ thống kế toán là xác định vị trí và trách nhiệm của các đối tượng tham gia vào việc chấp hành các nghiệp vụ tài chính nhà nước, là một trong những điểm then chốt nhất trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống kế toán ngân sách nhà nước hiện nay ở VN.
Đối với nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định thực hiện nghiệp vụ tài chính nhà nước và người chấp hành quyết định đó có nhiều ưu điểm và có thể thực hiện được vì những lý do sau:
Một là: Về mặt kỹ thuật, nguyên tắc này cho phép việc phân công, chia sẻ công việc trong việc chấp hành nghiệp vụ tài chính và chính nhờ sự phân công ấy tạo nên hai tác nhân độc lập để có thể kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực hiện.
Hai là: Cơ quan ra quyết định sẽ không phải tổ chức công việc kế toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên có thể tập trung và thực hiện công tác chuyên môn để lựa chọn quyết định chi tiêu hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm hơn.
Ba là: Cơ quan chuyên môn trong việc tổ chức hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế có trách nhiệm thực hiện thu, chi và phản ánh trung thực các nghiệp vụ tài chính theo yêu cầu của cơ quan ra quyết định; kiểm tra các quyết định tài chính trên cơ sở quy định của pháp luật tài chính hiện hành trước khi thực hiện quyết định đồng thời lập và cung cấp các báo cáo tài chính một cách khách quan cho các đơn vị sử dụng thông tin thu, chi ngân sách nhà nước.
Bốn là: Trong điều kiện thực tế của VN, do ý thức chấp hành luật pháp còn hạn chế, các chế tài kỷ luật trong lĩnh vực tài chính còn chưa nghiêm, tình trạng thực hiện chi tiêu và tập trung các khoản thu của ngân sách vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ, tiêu chuẩn, định mức cho phép còn diễn ra phổ biến thì việc tăng cường kiểm soát và quản lý tập trung vẫn là một yêu cầu mang tính nguyên tắc. Việc phân cấp tổ chức công tác kế toán đồng thời với chủ trương phân cấp quản lý, giao quyền nhiều hơn cùng với tăng cường trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách theo xu hướng hiện nay mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý tài chính nói chung và trong công tác kế toán ngân sách nói riêng.
Thực tế hiện nay, về mặt tổ chức kế toán ngân sách khi phân cấp chúng ta áp dụng hình thức kế toán tập trung và kế toán phân tán thì có thể vẫn duy trì kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp song cán bộ và bộ máy kế toán ở các đơn vị nên độc lập với thủ trưởng của đơn vị nhưng trực thuộc cơ quan kế toán của Nhà nước (không phân cấp tổ chức). Chức năng kế toán này giao cho Kho bạc Nhà nước đảm nhiệm như hiện nay là hợp lý cả trên phương diện kiểm soát, thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhà nước và phương diện về điều kiện vật chất để tổ chức hạch toán kế toán.
Ngoài ra, trong tổ chức bộ máy kế toán nhà nước là phân biệt kế toán của các cơ quan hành chính và kế toán của các đơn vị sự nghiệp. Đối với các cơ quan hành chính thuần túy, nguyên tắc này có thể thực hiện kể cả trong điều kiện phải phân cấp về mặt kỹ thuật. Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp và nhất là các đơn vị sự nghiệp tự cân đối thu chi, có thể tách kế toán của các đơn vị này ra khỏi hệ thống kế toán nhà nước và có thể áp dụng như kế toán doanh nghiệp.
Nguyên tắc không kiêm nhiệm liên quan mật thiết đến tổ chức bộ máy kế toán nhà nước. Theo đó, việc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định tài chính và kế toán sẽ dẫn đến việc hình thành một cơ quan kế toán tập trung, thống nhất. Lợi ích của kế toán tập trung thì có nhiều và với điều kiện thực tế của VN, kế toán tập trung sẽ là mô hình tổ chức kế toán mang tính nguyên tắc. Bên cạnh đó, cần phải thừa nhận việc Nhà nước ngày càng phân cấp và phân quyền quản lý tài chính sâu hơn, rộng hơn. Điều đó đòi hỏi kế toán nhà nước cần có những thay đổi trong tổ chức bộ máy. Kế toán các đơn vị hành chính thuần túy vẫn có thể thực hiện theo nguyên tắc kế toán tập trung và nguyên tắc bất kiêm nhiệm nhưng đối với các đơn vị sự nghiệp, việc tổ chức kế toán phân tán ở các đơn vị này sẽ ngày càng hình thành rõ nét cùng với xu thế phân cấp quản lý các dịch vụ công.
Chúng ta nên phân biệt và áp dụng hai nguyên tắc là kế toán ngân sách theo phương pháp tiền mặt và kế toán tài sản theo phương pháp dồn tích. Vấn đề này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn liên quan chặt chẽ tới tổ chức hệ thống kế toán nhà nước.
Một là: Đối với kế toán ngân sách, mặc dù hiện nay việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đã ngày càng mở rộng, song đặc điểm quản lý ngân sách nhà nước vẫn mang tính tập trung khá rõ nét. Điều này thể hiện ở việc chính quyền cấp trên vẫn nắm quyền kiểm soát và ảnh hưởng tới ngân sách chính quyền cấp dưới và cụ thể hơn là tính chất lồng ghép ngân sách đã được quy định trong Thông tư số 59/2004/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 60/2003/NĐ-TTg hướng dẫn chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng
Hiện nay, ngân sách lồng ghép như vậy nhưng nhu cầu thông tin về ngân sách ở mỗi cấp chính quyền lại khác nhau. Thường tại từng cấp ngân sách, nhu cầu thông tin đặt ra rất chi tiết nhưng ở cơ quan tài chính cấp trên, thông tin chi tiết về ngân sách cấp dưới không phải bao giờ cũng cần thiết. Đây là lý do cần kết hợp tổ chức kế toán tập trung và tổ chức kế toán phân tán trong phân hệ kế toán ngân sách. Cần xác định thông tin gì cần tập trung lên ngân sách cấp trên, thông tin gì chỉ mang tính quản lý, điều hành tại từng cấp ngân sách và thông tin gì cần cho các đơn vị sử dụng ngân sách.
dịch vụ chữ ký số tại quận thủ đức
Hai là: Đối với kế toán tài sản theo nguyên tắc dồn tích thì đây là loại kế toán có nhiệm vụ phản ánh đầy đủ tình hình tài sản nợ, tài sản có của một đơn vị kế toán; mặt khác mỗi đơn vị kế toán ra đời lại xuất phát từ yêu cầu phân cấp quản lý, vì thế việc tổ chức hệ thống kế toán này phải kết hợp được nhu cầu thông tin chung đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu quản lý cụ thể của từng đơn vị kế toán
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Theo Tạp chí Kế toán
[Read More...]
Ngày 21/3/2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 53/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.
Theo đó, khi thanh lý, nhượng bán chứng khoán kinh doanh (tính theo từng loại chứng khoán), giá vốn của chứng khoán kinh doanh được xác định theo một trong các phương pháp nhập trước xuất trước hoặc bình quân gia quyền.
Doanh nghiệp phải áp dụng nhất quán phương pháp đã chọn để tính giá vốn của chứng khoán kinh doanh trong năm tài chính.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Trường hợp thay đổi phương pháp tính giá vốn của chứng khoán kinh doanh, doanh nghiệp phải trình bày và thuyết minh theo quy định của chuẩn mực kế toán.
Đồng thời, Thông tư 53/2016/TT-BTC còn sửa đổi, bổ sung nhiều quy định khác của Thông tư 200/2014/TT-BTC , như là: Nguyên tắc xác định tỷ giá hối đoái, Dịch chứng từ kế toán ra tiếng Việt…
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Thông tư 53/2016/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày 01/01/2016.
Các doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng tỷ giá hối đoái quy định tại Điều 1 Thông tư 53/2016/TT-BTC cho Báo cáo tài chính năm 2015.
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
Theo Thuvienphapluat
[Read More...]
Kế toán xây dưng ( xây lắp ) là kế toán đặc thù nên khó hơn khi làm kế toán thương mại dịch vụ hay sản xuất . Để giúp cho các bạn làm hình dung được công việc của một kế toán xây dựng, chúng tôi xin cung cấp cho các bạn công việc cần làm của một kế toán xây dựng như sau
>> Hướng dẫn tổng hợp hạch toán cho công ty xây dựng
>> Hướng dẫn hạch toán chi phí thuê máy thi công
>> Kinh nghiệm quyết toán thuế kế toán doanh nghiệp xây dựng cần biết
>> Hướng dẫn đọc dự toán xây dựng chi tiết nhất
Ảnh minh họa
1. Đặc điểm chung về kế toán xây dựng
- Khi đã trúng thầu công trình tham gia thầu, đã có giá trị, khối lượng tham gia thầu công trình, kế toán dựa vào dự toán đã trúng thầu tiến hành bóc tách chi phí để hạch toán. Việc bóc tách chi phí nhằm mục đích hiểu rõ được chi phí trong dự toán để hạch toán đúng.
- Mỗi một công trình, hạng mục đi kèm có một dự toán riêng. Từ đó tách chi phí cho từng công trình, điểm khác biệt với hạch toán trong thương mại là chi phí của công trình nào thì kế toán phải tập hợp vào giá trị công trình đó. Tập hợp các loại chi phí cấu thành nên giá thầu công trình bằng hoặc gần bằng giá trên bản dự toán do bộ phận kỹ thuật cung cấp. Dựa vào chi phí đó để kế toán xác định giá vốn đưa vào hạch toán cho công trình đó theo từng khoản mục chi phí?
- Chi phí của công trình được chia theo khoản mục là : Nguyên vật liệu chính, Nhân công, Máy thi công, Chi phí quản lý chung
+ Với chi phí nguyên vật liệu, các bạn phải căn cứ vào định mức tiêu hao trong dự toán, để bóc ra khối lượng các loại vật tư thiết bị tiêu hao và xuất cho công trình
+ Với chi phí nhân công, bạn cần căn cứ vào khối lượng công việc, ngày công, bậc thợ để xác định số lao động, tiền lương theo công trình và thời gian thực hiện của từng công trình
+ Với chi phí máy thi công, bạn cần căn cứ vào loại máy, ca máy để tính tiêu hao nhiên liệu, lương công nhân, và khấu hao máy móc
+Chi phí quản lý chung các bạn có thể tập hợp và phân bổ cho từng công trình theo tỷ lệ nguyên vật liệu chính, hoặc theo nhân công
- Do đặc điểm của kế toán xây dựng là khi xây dựng công trình phụ thuộc vào địa điểm xây dựng nên giá xây dựng mỗi nơi một khác nhau. Do đó kế toán xây dựng phải biết áp dụng đúng giá cho mỗi công trình ở mỗi tỉnh là khác nhau và căn cứ vào dự toán để xác định tiêu hao vật tư, ngày công… chứ không xác định theo giá trị
- Công trình xây dựng thường kéo dài qua nhiều kỳ kế toán nên khi tập hợp chi phí phải theo dõi chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, cũng như vật tư xuất cho từng công trình.
- Khi xuất vật tư phải phù hợp với định mức theo dự toán từng công trình
- Công trình hoàn thành phải có biên bản nghiệm thu từng hạng mục hoặc toàn bộ công trình
- Khi có biên bản nghiệm thu hoàn thành bàn giao công trình thì phải xuất hóa đơn ghi nhận doanh thu cho công trình hoàn thành
2. Các nghiệp vụ kế toán xây dựng cơ bản
- Căn cứ vào bảng bóc tách khối lượng công việc và vật tư tiêu hao để theo dõi việc đưa chi phí nguyên vật liệu vào theo định mức xây dựng
- Lập và theo dõi bảng lương nhân công theo tiến độ thi công thực tế
- Theo dõi chi phí máy, nhân công máy theo từng công trình
- Tập hợp, phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng công trình, hạng mục công trình
- Tập hợp, phân bổ chi phí và tính ra giá thành từng công trình, hạng mục công trình
- Lập báo cáo thuế tháng, quý, và lập báo cáo tài chính cuối năm
- Theo dõi chi phí dở dang của từng công trình, hạng mục
- Theo dõi doanh thu hoàn thành của từng công trình, hạng mục
- Lập BCTC nội bộ phục vụ yêu cầu quản lý của cấp trên
- Sắp xếp, lưu trữ cẩn thận hồ sơ, hóa đơn, chứng từ, dự toán, quyết toán, biên bản nghiệm thu bàn giao… một cách khoa học.
- Có khả năng giải trình số liệu của từng công trình, hạng mục với cơ quan thuế khi có yêu cầu thanh tra, quyết toán.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Trên đây là sơ lược các công việc kế toán tại công ty xây dựng. Tuy nhiên để hiểu rõ thực sự bản chất, cách hạch toán của kế toán xây dựng – xây lắp thì cần phải có nhiều trao đổi trong việc thực hành kế toán xây dựng, xây lắp nhằm phục vụ cho người làm kế toán giải quyết được các vướng mắc thường gặp trong quá trình làm việc.
Đăng ký nhận tài liệu kế toán bổ ích
Mời bạn để lại email để nhận thêm các tài liệu, kiến thức dành cho kế toán từ MISA
Mời bạn nhập email
form-news
chinh.html>dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận cầu giấy
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hoàn kiếm
Đăng ký nhận tài liệu kế toán bổ ích
Mời bạn để lại email để nhận thêm các tài liệu, kiến thức dành cho kế toán từ MISA
Mời bạn nhập email
form-news
>> Hướng dẫn tổng hợp hạch toán cho công ty xây dựng
>> Hướng dẫn hạch toán chi phí thuê máy thi công
>> Kinh nghiệm quyết toán thuế kế toán doanh nghiệp xây dựng cần biết
>> Hướng dẫn đọc dự toán xây dựng chi tiết nhất
dịch vụ chữ ký số tại quận đống đa
Theo Centax
[Read More...]
Bất kể là công ty có quy mô lớn hay nhỏ điều cần có một kế toán tổng hợp để quản lý sổ sách. Nhưng hiện nay vì để tiết kiệm chi phí, nhân sự và tăng năng suất làm việc. Nhiều công ty đã sử dụng dịch vụ kế toán tổng hợp của các công ty dịch vụ vì những lợi ích như: có năng lực về nghiệp vụ kế toán, khả năng tổng hợp và phân tích báo cáo tốt, đặc biệt sử dụng thành thạo các kỹ năng máy tính, excel và phần mềm kế toán.
Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ kế toán tổng hợp
– Kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các đơn vị.
– Kiểm tra các định khoản phát sinh.
– Kiểm tra sự cân đối giữa số liệu kế toán chi tiết và tổng hợp.
– Kiểm tra sự hợp lý và khớp đúng giữa số dư cuối kỳ với các báo cáo chi tiết.
– Hạch toán thu nhập, chi phí, công nợ, thuế GTGT và báo thuế cho công ty.
– Theo dõi và quản lý tổng quát công nợ văn phòng công ty để tiến hành xác định và đề xuất lập dự phòng hoặc xử lý công nợ phải thu khó đòi.
– Lập báo cáo tài chính theo từng quý
– Thống kê và tổng hợp số liệu kế toán khi có yêu cầu.
– Cung cấp số liệu cho ban giám đốc hoặc cơ quan chức năng khi có yêu cầu.
– Cung cấp hồ sơ, số liệu cho cơ quan thuế, kiểm toán, thanh tra kiểm tra theo yêu cầu.
– Lưu trữ dữ liệu kế toán theo quy định.
Lợi ích tuyệt vời mà dịch vụ kế toán tổng hợp mang lại cho công ty của bạn
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Hiện nay, có rất nhiều công ty sử dụng dịch vụ kế toán tổng hợp, nhất là các công ty vừa và nhỏ. Một phần là do chủ doanh nghiệp không thành tạo về kế toán và các quy định thuế nên rất cần một nhân viên chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm để thực hiện. Bên cạnh đó, chi phí dịch vụ của các dịch vụ kế toán tổng hợp chỉ khoảng 1,5 – 5 triệu, tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp và số lượng nghiệp vụ phát sinh loại hình kinh doanh của công ty. Điều này giúp cho công ty tiết kiệm được rất nhiều chi phí như: chi phí đào tạo, lương, thưởng, BHXH,…và vẫn đảm bảo được năng suất làm việc cho doanh nghiệp.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Hơn nữa, đội ngũ nhân viên của các công ty cung cấp dịch vụ kế toán tổng hợp luôn có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm làm việc và luôn cập nhật kịp thời luật và chế độ kế toán hiện nay. Không chỉ có nghiệp vụ vững vàng mà các nhân viên kế toán tổng hợp luôn tận tâm, trung thực và có trách nhiệm với công việc. Với dịch vụ kế toán tổng hợp, việc sổ sách tính toán trong doanh nghiệp của bạn sẽ được thực hiện nhanh chóng và chính xác với chi phí hợp lý nhất, giúp chủ công ty yên tâm tập trung toàn lực vào công việc đầu từ và sản xuất trong tương lai.
dịch vụ chữ ký số tại quận đống đa
Theo vsolutions
[Read More...]
Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp. KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng.
Ở giai đoạn 1, KTQT được xem là một hoạt động đơn thuần mang tính chất kỹ thuật nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Sang giai đoạn 2, KTQT được xem như một hoạt động quản lý nhưng ở vai trò nhân viên thừa hành, hỗ trợ cho các nhà quản lý cấp cao trong đơn vị thông qua việc cung cấp thông tin cho mục đích hoạch định và kiểm soát. Ở giai đoạn 3 và 4, KTQT đã trở thành một bộ phận gắn liền với hoạt động quản lý, các thông tin được cung cấp tức thời cho người quản lý. Mục tiêu của KTQT ngày nay là tạo thêm giá trị cho đơn vị thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt nhất. Các giá trị bao gồm:
- Giá trị cho sản phẩm, dịch vụ của đơn vị phục vụ khách hàng
- Giá trị cho cổ phiếu của đơn vị trên thị trường chứng khoán
Để phục vụ cho các mục tiêu của nhà quản lý, KTQT hiện đại đã phát triển các công cụ và kỹ thuật phù hợp. Theo đó, các công cụ này bao gồm: công cụ hỗ trợ cho việc hiểu biết thị trường; công cụ cho kế hoạch chiến lược; công cụ đánh giá kết quả; công cụ quản lý và phát triển tri thức.
Như vậy, có thể thấy hiện nay KTQT ở các nước tiên tiến đã phát triển vượt xa khỏi hình thái ban đầu của nó là hệ thống dự toán ngân sách nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí. KTQT ngày nay đã có những bước tiến rất xa trong những năm cuối thế kỷ 20 để trở thành một bộ phận không thể tách rời của quản trị doanh nghiệp. KTQT hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát triển tầm nhìn chiến lược đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin.
Ảnh minh họa
Kế toán quản trị và những quy định liên quan
KTQT là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt.
Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Do đó việc hiểu và vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam còn rất mơ hồ.
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Có thể nói, đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện KTQT tại Việt Nam
Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay kế toán quản trị vẫn mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống KTQT. Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành
Kế toán quản trị tiến hóa tại Việt Nam
Cũng như theo xu thế tiến hoá chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí. Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ. Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau. Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân làm 2 cách
- Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng. Các doanh nghiệp thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiện cho tương lai. Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác. Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này
- Thứ hai: dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó. Phương pháp lập kế hoạch này thường được vận dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được.
Hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí cũng được hình thành theo nhu cầu quản trị của doanh nghiệp, theo cùng với hệ thống lập kế hoạch (dự toán). Tuy nhiên, việc kiểm soát chi phí chỉ dừng lại ở một vài khoản mục chi phí phát sinh tương đối lớn và chiếm tỉ trọng cao như: chi phí quảng cáo tiếp thị, chi phí vận chuyển, lương… (trong chi phí bán hàng) ; chi phí tiếp khách, đào tạo,…(trong chi phí quản lý doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc quản lý chi phí ở khâu sản xuất (đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất) cũng được tổ chức chặt chẽ nhằm giảm giá thành sản phẩm.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp. KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng
dịch vụ chữ ký số tại quận long biên
Theo Saga
[Read More...]
Chế độ kế toán mới đã có những quy định phù hợp với thực tiễn, hiện đại và mang tính khả thi, tôn trọng bản chất hơn hình thức, linh hoạt và mở, phù hợp với thông lệ quốc tế và đề cao trách nhiệm của người hành nghề.
Đây là đánh giá của đại diện Vụ Chế độ Kế toán, Bộ Tài chính tại Hội nghị “Nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) kiểm toán trong Hồ sơ đăng ký niêm yết” vừa được Sở GDCK Hà Nội (HNX) phối hợp với Vụ Chế độ Kế toán tổ chức chiều ngày 9/6/2016.
Hội nghị nhằm nâng cao chất lượng BCTC kiểm toán của các công ty niêm yết, công ty đại chúng, cũng như nâng cao chất lượng thông tin tài chính tại hồ sơ đăng ký niêm yết của các doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Đặng Thái Hùng, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán, Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian qua Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan đã rất tích cực trong việc chỉnh sửa, cập nhật các văn bản pháp lý liên quan đến BCTC kiểm toán, nhằm đảm bảo có một mặt bằng pháp lý đầy đủ, phù hợp nhất cho việc lập BCTC kiểm toán cho các doanh nghiệp niêm yết.
Hội nghị thu hút sự quan tâm của đông đảo doanh nghiệp. Ảnh: DT
Tại Hội nghị, Phó Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán, Bộ Tài chính Trịnh Đức Vinh đã giới thiệu về nguyên tắc xây dựng và một số quy định chung của chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC; nguyên tắc lập tài khoản kế toán, nguyên tắc lập và trình bày BCTC khi thay đổi kỳ kế toán, chuyển đổi hình thức sở hữu, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp; nguyên tắc lập và trình bày BCTC hợp nhất theo Thông tư 202/2014/TT-BTC.
Theo đó, chế độ kế toán mới đã có những quy định phù hợp với thực tiễn, hiện đại và mang tính khả thi, tôn trọng bản chất hơn hình thức, linh hoạt và mở, phù hợp với thông lệ quốc tế và đề cao trách nhiệm của người hành nghề.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Sau hơn 1 năm thực hiện các Thông tư 200 và 202/2014/TT-BTC, Phó Chủ tịch Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, TS. Hà Thị Ngọc Hà đã chia sẻ về các sai sót mà các doanh nghiệp thường mắc phải khi lập BCTC như: Không xác định đúng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán phải áp dụng; chưa phân loại đúng tài sản và nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn; chưa ghi nhận và thuyết minh đúng quy định của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp; không lập dự phòng cho tài sản và nợ phải trả; không phản ánh đúng tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí; số liệu giữa các BCTC có nhiều sai, mâu thuẫn; thuyết minh BCTC không đầy đủ các nội dung theo quy định; chưa cập nhật Thông tư 200.
Cũng tại Hội nghị, đại diện Vụ Quản lý Chào bán chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã trao đổi về các điều kiện để một công ty kiểm toán được chấp thuận kể từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, theo Thông tư 183/2013/TT-BTC về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Theo đó, điều kiện để một công ty kiểm toán được chấp thuận từ kỳ 2016 là phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, có vốn điều lệ tối thiểu 6 tỷ đồng, số lượng kiểm toán viên tối thiểu 15 người, thời gian hoạt động tại Việt Nam tối thiểu 36 tháng, số lượng báo cáo kiểm toán đã phát hành cho khách hàng đăng ký mới đạt ít nhất 300 khách hàng, đối với trường hợp đã được chấp thuận trong năm nộp hồ sơ thì có 20/300 khách hàng là đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán.
Đối với hồ sơ niêm yết, HNX đặc biệt lưu ý các doanh nghiệp về công tác chuẩn bị tài liệu cho hồ sơ đăng ký niêm yết như: Giấy đăng ký niêm yết phải do người đại diện theo pháp luật ký; bản cáo bạch phải có đầy đủ chữ ký gốc của tổ chức đăng ký niêm yết, tổ chức tư vấn; điều lệ phải phù hợp Luật Doanh nghiệp 2014; sổ đăng ký cổ đông phải lập 1 tháng trước thời điểm nộp hồ sơ; báo cáo tăng vốn, quản trị công ty…
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
Theo Thoibaotaichinhvietnam
[Read More...]
Trong những năm gần đây, tình trạng khác nhau rất lớn giữa số liệu trong báo cáo tài chính chưa được kiểm toán với số liệu sau kiểm toán phát sinh rất nhiều đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trường hợp điển hình là số liệu lợi nhuận của Vinaconex (VCG) năm 2009 sau kiểm toán giảm gần 257 tỷ đồng so với số liệu lợi nhuận trước kiểm toán. Hay sự kiện gần đây nhất là Công ty Du lịch Dầu khí Phương Đông (PDC) có lợi nhuận trước kiểm toán là 3 tỉ đồng nhưng kết quả kiểm toán cho thấy Công ty lỗ gần 60 tỉ đồng. Vậy câu hỏi được đặt ra là tại sao lại có sự chênh lệch lớn như vậy? nguyên nhân cốt lõi là gì?
Bài viết có tính chất giới thiệu với bạn đọc, người nghiên cứu kế toán, người sử dụng thông tin kế toán và những người ban hành các chuẩn mực và quy định về kế toán tại Việt Nam Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory). Hy vọng lý thuyết nghiên cứu kế toán thực chứng là tiền đề giải thích các sự kiện kế toán phát sinh trong thực tế, đặc biệt trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi số liệu báo cáo tài chính tác động rất lớn đến các quyết định và lợi ích của nhà đầu tư.
Lý thuyết kế toán thực chứng là gì?
Trước tiên ta cần hiểu về định nghĩa một dòng lý thuyết. Dòng lý thuyết được định nghĩa là một chuỗi liên tục các định đề hoặc các nguyên lý thiết lập ra các khung nguyên tắc chung nhất cho một lĩnh vực nhất định. Các dòng lý thuyết kế toán khác nhau đưa đến các kết quả, cách thức nghiên cứu và ứng dụng khác nhau.
Lý thuyết kế toán chuẩn tắc (Normative Accounting Theory) diễn giải cho chúng ta các quy định của khung nguyên tắc kế toán (Accounting Framework) và các chuẩn mực kế toán. Lý thuyết kế toán chuẩn tắc quy định các nghiệp vụ phát sinh thì cần phải được ghi nhận và công bố như thế nào. Điều đó có nghĩa là lý thuyết kế toán chuẩn tắc trả lời câu hỏi “người lập báo cáo tài chính được yêu cầu phải làm cái gì” (What).
Trong khi đó, lý thuyết kế toán thực chứng giải thích và dự báo các hoạt động kế toán diễn ra hàng ngày trong thực tế. Lý thuyết kế toán thực chứng giúp chúng ta trả lời câu hỏi “cái gì đang diễn ra hàng ngày, tại sao người lập báo cáo tài chính lại làm như vậy, động lực nào để họ làm như vậy?” (Why, How). Như vậy, thay vì các quy định cần phải thực hiện trong kế toán chuẩn tắc, lý thuyết kế toán thực chứng cho chúng ta cơ hội khám phá và giải thích những sự vật hiện tượng chưa từng xuất hiện hoặc đã xuất hiện nhưng chúng ta chưa quan sát thấy trong thế giới tài chính và kế toán.
Lý thuyết kế toán thực chứng dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu và các sự kiện xảy ra trong thực tế để kiểm chứng các giả thuyết mà nhà nghiên cứu quan sát và đặt ra. Kế toán thực chứng thường áp dụng các phương pháp thống kê hay kinh tế lượng cao cấp để phục vụ cho việc kiểm chứng giả thuyết.
Một số nhánh nghiên cứu của lý thuyết kế toán thực chứng có thể kể đến nghiên cứu kế toán trong thị trường vốn (Capital market research) và nghiên cứu các hành vi phù phép lợi nhuận (Earnings management research).
Một ví dụ về nghiên cứu kế toán trên thị trường vốn là nghiên cứu các hành động của thị trường vốn, được đại diện bởi giá cổ phiếu, đối với thông tin về lợi nhuận kế toán của giáo sư Sloan (1996) hoặc một loạt các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của giáo sư P. Dechow trong những năm 1990s. Đây chỉ là những ví dụ nhỏ trong hàng ngàn công trình nghiên cứu thực nghiệm về kế toán trên thị trường vốn.
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thời điểm hiện tại vẫn chưa có những nghiên cứu kế toán thực chứng nào được công bố. Nhưng nếu các nhà nghiên cứu kế toán của chúng ta áp dụng lý thuyết kế toán thực chứng thì biết đâu có thể kiểm chứng và đúc kết các sự kiện biến động giá cổ phiếu dưới tác động của thông tin kế toán như của Vinaconex, hay Công ty Cổ phần Đầu tư và Vận tải Dầu khí Vinashin (VSP) từ quán quân lãi năm 2008 trở thành quán quân lỗ năm 2009 nhưng giá cổ phiếu đang tăng rất nóng trong thời gian gần đây.
Nghiên cứu các hành vi phù phép lợi nhuận, biết lỗ thành lãi và ngược lại, dường như gần gũi hơn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Hàng loạt các hành động “cố tình” che dẫu lãi/lỗ của các doanh nghiệp niêm yết được kiểm toán viên điều chỉnh. Lý thuyết kế toán thực chứng nghiên cứu nguyên nhân và giải thích cho các hành động trên.
Thông thường kế toán thực chứng nghiên cứu các hành vi cơ hội dựa trên lợi ích của các nhóm người khác nhau, có thể kể đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu – nhà quản lý doanh nghiệp – người cho vay (Owner-Manager-Lender), hay còn gọi là lý thuyết người đại diện (Agency Theory). Mỗi nhóm người có lợi ích khác nhau và hành động của họ thường phục vụ lợi ích của nhóm. Có thể lãnh đạo của các doanh nghiệp như Vinaconex hay PDC nêu trên có những lợi ích riêng khi công bố kết quả lợi nhuận chưa kiểm toán cao hơn thực tế. Theo các nghiên cứu về phù phép lợi nhuận, ban lãnh đạo thường công bố lợi nhuận cao nhằm đạt mức lương thưởng gắn với kết quả kinh doanh và đồng thời giữ giá cổ phiếu khi họ cũng là những cổ đông lớn.
Lý thuyết kế toán thực chứng đồng thời còn nghiên cứu về lợi nhuận bị tác động dựa trên các yếu tố phí tổn chính trị (Political cost). Yếu tố phí tổn chính trị đối với doanh nghiệp được coi là các phí tổn phi hợp đồng. Ví dụ như công đoàn công ty sẽ gây sức ép với ban lãnh đạo để được trả lương cao hơn khi công ty có lãi cao. Đó là động lực để ban lãnh đạo phù phép giảm lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán. Ví dụ cụ thể hơn trên thị trường chứng khoán Việt Nam là trường hợp Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết phù phép lỗ thành lãi trong hai năm trước khi niêm yết nhằm đạt được điều kiện tiên quyết để niêm yết cổ phiếu của Bông Bạch Tuyết trên thị trường chứng khoán. Hoăc, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) kêu lỗ và đòi tăng giá điện trong khi lương và thưởng thuộc hàng cao nhất ở Việt Nam.
Lý thuyết kế toán thực chứng giúp chúng ta giải thích được nguyên nhân của các sự kiện trên. Từ đó, các đối tượng sử dụng thông tin kế toán khác nhau sẽ có các hành động khác nhau. Người viết với tư cách là một kiểm toán viên nhận định rằng nếu các kiểm toán viên đều hiểu được sâu sắc các nguyên nhân tác động lợi nhuận và ảnh hưởng đến thị trường như thế nào thì có thể giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Những nhà đầu tư hiểu được xu thế biến động của giá cổ phiếu trước các thông tin kế toán thì sẽ có những hành động phù hợp. Hoặc, những nhà hoạch định chính sách kế toán, chính sách thị trường vốn có thể đưa ra các chính sách phù hợp nhằm minh bạch hoá thị trường góp phần nâng cao chất lượng thị trường.
Lý thuyết kế toán thực chứng – Một quá trình
Thực ra lý thuyết kế toán thực chứng là một nhánh của kinh tế học thực chứng (Positive Economic Theory). Milton Friedman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel người Mỹ, người được tờ The Economist coi là một nhà kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất nửa sau thế kỷ 20, đã cổ suý cho lý thuyết kinh tế thực chứng, hướng tới giải thích và phán đoán các sự kiện kinh tế chưa được kiểm chứng và quan sát thấy. Công trình điển hình của ông về lý thuyết kinh tế thực chứng là cuốn sách “Essays in Positive Economics” (1953).
Lý thuyết kế toán thực chứng được hai giáo sư người Mỹ, Ross Watts và Jerold Zimmerman, đẩy mạnh phát triển từ những năm cuối thập niêm 1960s cho đến nay qua hàng loạt các công trình nghiên cứu của mình. Hai ông cũng là đồng tác giả cuốn sách nổi tiếng “Positive Accounting Theory” được xuất bản vào năm 1986.
Tuy nhiên, trước Watts và Zimmerman, hai giáo sư Ray Ball và Phillip Brown được công nhận là những người khởi đầu dòng kế toán thực chứng với công trình nghiên cứu được coi là kinh điển năm 1968 “An Empirical Evaluation of Accounting Income Numbers”. Công trình nghiên cứu này được đăng trên tạp chí nổi tiếng trong giới kế toán “Journal of Accounting Research”, đại bản doanh của Ray Ball sau này tại Đại học Chicago, Mỹ. Ray Ball và Phillip Brown hoàn thành công trình của mình khi đang là các nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Đại học Chicago, Mỹ. Theo công bố chính thức của R.Ball một điều thú vị là công trình nghiên cứu này đã bị tạp chí The Accounting Review (Mỹ) từ chối đăng vì cho rằng nó không liên quan đến kế toán. Công trình của hai ông đến thời điểm này đã được trích dẫn bởi 2554 công trình nghiên cứu và bài báo khoa học khác nhau trong (Nguồn: Google Scholar). Cho đến bây giờ nhắc đến nghiên cứu kế toán, người ta vẫn sẽ nhắc đến Ball & Brown cho dù cũng trong năm 1968, Beaver (1968) cũng đưa ra công trình nghiên cứu kế toán thực chứng của mình “The Information Content of Annual Earnings Announcement”. Công trình của Ball&Brown và Beaver là những công trình đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết kế toán thực chứng.
Sau Ball và Brown, cùng với sự phát triển của Watts và Zimmerman, các nghiên cứu kế toán theo trường phái thực chứng đã phát triển mạnh mẽ và dường như lấn át trường phái kế toán chuẩn tắc. Các đề tài nghiên cứu của những sinh viên cao học cho đến các luận án tiến sỹ hay các công trình nghiên cứu của các giáo sư tại các trường đại học và viện nghiên cứu quốc tế thường áp dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
Trong thời gian gần đây, tại Việt Nam đã xuất hiện một số bài báo nghiên cứu khoa học áp dụng lý thuyết kế toán thực chứng, mặc dù chất lượng vẫn chưa được đánh giá. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là các bài báo này lại được thực hiện bởi các nghiên cứu sinh người Việt tại nước ngoài và chưa lấy bối cảnh và dữ liệu tại Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như Trần Đức Nam, Trần Mạnh Dũng,… đã và đang khát vọng đưa kế toán thực chứng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Một số trường đại học tại Việt Nam đang bắt đầu tiếp cận đến lý thuyết này. Một luận văn của một sinh viên Đại học Ngoại thương đã nghiên cứu sơ lược về kế toán thực chứng và được đánh giá cao.
Sự cần thiết của lý thuyết kế toán thực chứng
Lý thuyết kế toán thực chứng là cần thiết khi giới kế toán thấy thất vọng đối với lý thuyết kế toán chuẩn tắc, lý thuyết chỉ hướng tới các quy định nhằm trả lời câu hỏi “người lập báo cáo tài chính phải làm gì?” mà không lý giải được “tại sao họ làm như vậy?” hay “trong thực tế kế toán làm như thế nào?”.
Watts và Zimmerman (1978) cho rằng các quy định kế toán (chuẩn tắc) rất không thực tiễn bởi vì nó tâp trung vào miêu tả các quy định thay vì xem xét các quy định kế toán được áp dụng trong thực tế có phù hợp và đạt hiểu quả kinh tế để từ đó đưa ra các điều chỉnh cần thiết. Watt và Zimmerman (1978, 1979, 1980) chỉ ra rằng kế toán thực chứng nhằm phát triển các giả thuyết để giải thích cho các sự vật hiện tượng mà chúng ta chưa nhận biết được. Do vậy, lý thuyết kế toán thực chứng có thể giúp các nhà tạo lập chính sách đưa ra các chính sách kế toán mới cho các giao dịch kinh tế mới phát sinh.
Giáo sư Christenson (Harvard) (1983) cho rằng kế toán chuẩn tắc xa dời với diễn biến của thị trường (off-the-mark). Ông cũng cho rằng nhiều khi các quy định kế toán không quan tâm đến phản ứng của thị trường và không cần biết tính kinh tế khi đưa ra áp dụng các quy định kế toán mới.
Điều này dường như đang diễn ra tại Việt Nam?
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Thông tư 201/2009/TT-BTC hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện tại Việt Nam. Thông tư này ra đời tạo ra sự lúng túng khi xử lý chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện đối với những người hành nghề kế toán bao gồm cả các kiểm toán viên khi nội dung của thông tư mâu thuẫn với chuẩn mực kế toán quy định về chênh lệch tỷ giá. Việc áp dụng quy định không thống nhất khiến cho chi phí xã hội để xử lý kế toán các giao dịch chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện tăng cao. Kế toán lúng túng trong xử lý. Kiểm toán viên phải tranh luận với kế toán trong việc thống nhất xử lý. Và thậm chí, chương trình thi cấp chứng chỉ kiểm toán viên quốc gia năm 2010 sẽ không bao gồm Thông tư 201 vì chưa thống nhất với chuẩn mực kế toán. Bộ Tài chính đang phải xem xét tác động của sự chưa thống nhất này.
Thông tư 244/2009/TT-BTC sửa đổi và bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp. Thông tư 244 cho phép ghi nhận chênh lệch đánh giá lại tăng tài sản khi góp vốn vào thu nhập trong kỳ. Điều này có thể chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán, đặc biệt chưa phù hợp với nguyên tắc thận trọng ghi cho phép ghi nhận thu nhập chưa thực hiện do đánh giá lại tài sản.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Hiện tại, việc ban hành các văn bản pháp quy mới trong kế toán vẫn dựa trên kinh nghiệm của các cá nhân có liên quan. Các nghiên cứu thực nghiệm trong thực tế thị trường gần như chưa có tác động đến việc thiết lập các chính sách kế toán mới, ví dụ như việc ban hành các chuẩn mực về công cụ tài chính.
Hiện tại chưa có bất kỳ nghiên cứu về tác động trong thực tế của các quy định kế toán trên đối với nền kinh tế và thị trường vốn được công bố. Người viết đề xuất rằng một nghiên cứu thực nghiệm tác động trong thực tiễn sẽ là cơ sở tốt nhất cho những nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra các chính sách kế toán và tài chính mới hoặc sửa đổi và hoàn thiện các chính sách hiện hành.
Hi vọng rằng sự phát triển của nghiên cứu kế toán thực chứng, cho dù mới bắt đầu, sẽ là một tiền đề quan trọng trong sự phát triển của kế toán Việt Nam, hướng tới một hệ thống kế toán ngày càng hoàn thiện hơn. ./.
dịch vụ chữ ký số tại quận đống đa
Theo kiemtoan
[Read More...]
Một số điểm cần lưu ý về hoá đơn đầu vào, đầu ra mà các bạn kê toán cần phải nắm rõ khi thực hiện các nghiệp vụ về hoá đơn chứng từ. Hoá đơn là một trong những chứng từ để công ty kê khai, tính thuế và khấu trừ thuế nhưng không phải hoá đơn nào cũng được kê khai, khấu trừ thuế.
1. Đối với hóa đơn đầu vào
- Các quy định về hóa đơn đủ điều kiện khấu trừ.
Về quy định hóa đơn mua vào có giá trị từ 20 triệu trở lên phải chuyển tiền qua ngân hàng thanh toán mới được khấu trừ thuế giá trị gia tăng. cần lưu ý:
- Hóa đơn mua cùng trong một ngày
Nếu trong cùng một ngày mua hàng hoá của một đơn vị nhưng chia nhỏ ra làm nhiều hoá đơn GTGT có giá trị dưới 20 triệu nhưng tổng giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên thì vẫn phải thanh toán qua ngân hàng. Nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt thì sẽ bị loại thuế GTGT của số hàng không thanh toán qua ngân hàng. Do vậy kế toán cần phải để ý khi nhận hoá đơn của một đơn vị trong cùng một ngày phải chú ý xem tổng số tiền phải thanh toán có vượt quá 20 triệu đồng hay không.
- Hóa đơn thanh toán làm nhiều lần
Một hoá đơn được thanh toán làm nhiều lần thì tất cả các lần đều phải chuyển khoản qua Ngân hàng, kể cả lần đặt cọc đầu tiên để làm cơ sở cho việc mua bán. Nếu doanh nghiệp đã đặt cọc bằng tiền mặt và khấu trừ luôn vào tiền hàng thì yêu cầu nhà cung cấp trả lại tiền đặt cọc đó và chuyển trả lại cho nhà cung cấp qua Ngân hàng. Nếu không số tiền thanh toán bằng tiền mặt sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng khi kê khai thuế GTGT đầu vào.
- Chuyển tiền qua ngân hàng
Việc chuyển tiền qua Ngân hàng để thanh toán cho hóa đơn từ 20 triệu trở lên có nghĩa là phải chuyển từ tài khoản Ngân hàng mang tên công ty mình sang tài khoản ngân hàng mang tên nhà cung cấp, do đó nếu chuyển tiền từ một tài khoản không mang tên công ty mình hoặc chuyển tiền sang một tài khoản không mang tên công ty người bán trên hóa đơn, hoặc nộp tiền mặt trực tiếp vào tài khoản tiền gửi ngân hàng của người bán thì đều không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng.
Nếu doanh nghiệp uỷ quyền cho bên thứ 3 thanh toán hoặc thanh toán bù trừ công nợ thì phải được quy định cụ thể trong hợp đồng thì cách thanh toán này cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng.
- Thời điểm thanh toán
Tại thời điểm kê khai nếu chưa đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng và người mua hàng chưa trả tiền thì vẫn được kê khai thuế giá trị gia tăng khấu trừ bình thường, nhưng nếu đến thời hạn thanh toán mà chưa thanh toán hoặc không có chứng từ thanh toán bằng chuyển khoản thì phần thuế giá trị gia tăng tương ứng với giá trị chưa thanh toán hoặc không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị loại ra và không được khấu trừ thuế GTGT.
- Phương thức thanh toán bù trừ
Hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa (dịch vụ) mua vào với giá trị hàng hóa (dịch vụ) bán ra cũng được coi là thanh toán qua Ngân hàng; trường hợp sau khi bù trừ công nợ mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền mặt có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng.
- Chú ý khấu trừ đối với tài sản cố định.
Nếu tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống ( trừ ô tô sử dụng cho vào kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn ) có giá trị vượt trên 1,6 tỷ đồng thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng đó thì sẽ không được khấu trừ, nhưng nếu công ty có ngành nghề là vận tải thì lại được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào.
- Hóa đơn đã kê khai năm trước năm sau hạch toán
Hóa đơn nếu đã kê khai trên tờ khai của năm nay nhưng lại không đưa vào hạch toán của năm mà lại hạch toán sang năm sau thì giá trị gia tăng của hóa đơn của năm đó sẽ không được khấu trừ.
- Các hóa đơn thuê văn phòng.
Một số doanh nghiệp thuê văn phòng là các căn hộ của các cá nhân không phát hành hóa đơn giá trị gia tăng, do vậy phải lên cơ quan thuế mua hóa đơn bán hàng để phát hành hóa đơn cho doanh nghiệp và nộp các loại thuế bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đặc biệt loại hóa đơn này không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng, tuy nhiên một số kế toán ở một số đơn vị nhìn thấy trong bảng tính thuế của cơ quan thuế thì có phần thuế giá trị gia tăng nên lập vào bảng kê chứng từ. Loại thuế này sẽ bị loại bỏ khi quyết toán.
- Hóa đơn đối với dự án.
Thuế giá trị gia tăng của một số dự án trong doanh nghiệp nếu đến thời điểm quyết toán đã bị hủy bỏ thì sẽ không được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đó. Cho nên, cần phải chuyển các chi phí đó sang các dự án đang hoạt động hoặc đã hoàn thành để tránh bị loại khoản thuế này.
- Các hóa đơn bị mất thì phải làm thế nào ?
Nếu hóa đơn giá trị gia tăng bị mất thì phải photo lại liên 1 và xin xác nhận sao y bản chính của công ty xuất hóa đơn, làm biên bản ghi nhận sự việc thì sẽ được kê khai và khấu trừ thuế đối với hoá đơn đó.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
2. Đối với hóa đơn đầu ra
- Viết nội dung trên hóa đơn
Cần phải chú ý đến diễn giải nội dung của hoá đơn khi viết hóa đơn. Ví dụ như ở một doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh vận tải trong thời kỳ được giảm thuế giá trị gia tăng cho hoạt động vận tải từ 10% xuống còn 5%. Nếu hóa đơn ghi là dịch vụ vận tải thì sẽ được hưởng mức thuế suất là 5% nhưng nếu ghi là cho thuê xe thì mức thuế suất sẽ lại là 10%.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
- Kiểm tra có bỏ sót hóa đơn đầu ra không
Phải rà soát lại toàn bộ hóa đơn xuất ra mỗi tháng, để chắc chắn không bỏ sót hóa đơn nào, nếu bỏ sót thì ngay lập tức phải kê khai bổ sung và kê khai nộp thuế.
- Các sản phẩm sử dụng nội bộ phải xuất hóa đơn.
Trong trường hợp doanh nghiệp trả lương cho người lao động bằng sản phẩm hàng hóa thành phẩm của mình, xuất hàng biếu tặng, làm từ thiện…. đều phải xuất hóa đơn và kê khai nộp thuế giá trị gia tăng.
dịch vụ chữ ký số tại quận hai bà trưng
Theo ke-toan
[Read More...]
Hiện nay, vấn đề sinh viên kế toán mới ra trường và cách giải bài toán kinh nghiệm đang được rất nhiều bạn kế toán quan tâm cũng như hầu hết sinh viên mới ra trường với chuyên ngành khác. Cùng là sinh viên mới ra trường vậy tại sao có người xin được việc với cơ hội nghề nghiệp đang rộng mở, có người lại thất nghiệp và hết lần đến lần khác bị các nhà tuyển dụng từ chối. Vậy nguyên nhân thật sự là do đâu ? Với một sinh viên mới ra trường thì làm thế nào để giải bài toán kinh nghiệm từ nhà tuyển dụng ?
Phương, tốt nghiệp loại khá chuyên ngành kế toán tại một trường đại học danh tiếng. Từ khi ra trường tới nay, Phương vẫn chưa có được một công việc nào, để bù cho những khoản thời gian trống do chưa có việc làm, Phương tiếp tục học lên cao học chuyên ngành kế toán. Tại sao một ứng viên như Phương lại gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm kế toán cho mình?
Hãy xem một buổi phỏng vấn của Phương với nhà tuyển dụng.
NTD: Hãy trình bày đôi điều về em?
Phương: Em tốt nghiệp loại khá chuyên ngành kế toán và hiện tại em đang học cao học về kế toán.
NTD: Em ra trường đã 1 năm rồi, từ đó đến giờ em đã làm kế toán ở đâu chưa?
Phương: Dạ, chưa. Từ khi ra trường đến giờ em chỉ tập trung vào việc học các khoá ngắn hạn về kế toán, anh văn … và học cao học
Buổi phỏng vấn trôi qua một cách êm đềm và ấn tượng Phương để lại cho Nhà tuyển dụng là “Một cô bé chăm học nhưng chưa bao giờ “hành” những điều mình học”
Các nhà tuyển dụng nhận xét khi phỏng vấn các ứng viên cho công việc kế toán thì thấy rằng các em rất chăm học nhưng lại chưa bao giờ vận dụng những điều mình học vào thực tế. Tuy nhiên có một mâu thuẫn là để tích luỹ kinh nghiệm, người tìm việc cần có một công việc tại các doanh nghiệp, nhưng rất ít doanh nghiệp đồng ý nhận những ứng viên chưa có kinh nghiệm vào làm việc. Vậy lối đi nào cho những bạn sinh viên kế toán mới ra trường được gắn mác “chưa có kinh nghiệm”?
Liên, vừa tốt nghiệp kế toán ở một trường đại học danh tiếng. Liên đã trải qua 5 lần phỏng vấn tìm việc về ngành kế toán và cô đều thất bại. Liên nhận ra các nhà tuyển dụng không nhận cô vì cô chưa có kinh nghiệm làm việc. Nhận ra được vấn đề của mình, Liên lập tức đào sâu vấn đề để đưa ra giải pháp.
Liên Nhận biết những yếu tố cần có của một kế toán giỏi thì đâu là kinh nghiệm, đâu là kiến thức:
Giỏi nghiệp vụ kế toán (yếu tồ này đòi hỏi cả kiến thức và kinh nghiệm)
Cập nhật liên tục các thông tư, nghị định về thuế (yếu tố này thuộc về kiến thức)
Thành thạo vi tính: word, excel, các phần mềm kế toán thông dụng (yếu tố này thuộc về kiến thức)
Giải quyết vấn đề (yếu tố này thuộc về kinh nghiệm)
Làm việc với cơ quan thuế (yếu tố này thuộc về kinh nghiệm)
Từ nhận biết trên, Liên bắt đầu định nghĩa lại làm thế nào để tích luỹ kinh nghiệm cho mình.
Giỏi nghiệp vụ kế toán – tham gia các khoá ngắn hạn về kế toán để trang bị kiến thức thật vững, tìm kiếm những cơ hội dù là nhỏ nhất để biến kiến thức thành kinh nghiệm (tham gia những bài tập nhóm, cố gắng tiếp xúc càng nhiều càng tốt các thầy cô giáo tại trung tâm, biết đâu Liên sẽ có những công việc bán thời gian thú vị)
Giải quyết vấn đề – Tham gia khoá học về giải quyết vấn đề, đọc sách về kỹ năng giải quyết vấn đề, vận dụng vào cuộc sống thường ngày.
Làm việc với cơ quan thuế – Để làm tốt việc này cần sự kết hợp giữa kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giải quyết vấn đề, tiếp tục học hỏi các thầy cô và bạn bè tại các khoá học ngắn hạn.
Sau khi xác định được cần phải tích luỹ kinh nghiệm về vấn đề gì, ở đâu… Liên nhận ra rằng, cần phải là thành viên của công ty nào đó rồi sau đó sẽ chứng minh khả năng để được điều chuyển vào bộ phận đúng chuyên ngành của mình.
Liên quyết định xin vào vị trí chăm sóc khách hàng của công ty InKyThuatSo một công ty chuyên về in ấn quảng cáo. Với kỹ năng giao tiếp đã được trui rèn qua các lớp ngắn hạn và sách, Liên dễ dàng được nhận vào làm Chăm sóc khách hàng cho công ty. Quá trình làm việc, Liên có cơ hội chứng minh khả năng của mình qua những lần giúp đỡ đồng nghiệp là kế toán bán hàng, kế toán kho … tổng kết sổ sách cuối tháng. Tiếng lành đồn xa, Liên được ban quản lý công ty để ý đến, và chỉ sau 4 tháng làm việc Liên được điều chuyển qua vị trí kế toán tổng hợp, một vị trí không phải dễ dàng cho những sinh viên mới ra trường. Đây chỉ là thành công bước đầu nhưng cũng chứng minh được Liên đã giải thành công bài toán kinh nghiệm cho sinh viên mới ra trường.
Tại sao Liên thành công ?
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
Thứ nhất Liên đam mê nghề kế toán
Thứ hai: Liên không kêu ca, than vãn khi bị gắn mác “chưa có kinh nghiệm” mà biến nó trở thành bài toán để tìm lời giải
Thứ ba: Liên biết chấp nhận đi đường vòng để đạt được mục tiêu của mình.
Theo thống kê về lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán thì 15% các bạn mới ra trường có được việc làm đúng chuyên môn ngay, 50% các bạn đi làm tạm thời công việc không đúng chuyên ngành, 35% thất nghiệp.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Nếu bạn thuộc nhóm 15% thì xin chúc mừng bạn. Hãy không ngừng học hỏi để tiếp tục thăng tiến trên con đường nghề nghiệp của mình.
Nếu bạn thuộc nhóm 50% thì hãy mở rộng đầu óc của mình ra và biến công việc tạm thời đó trở thành những cơ hội để tích luỹ kinh nghiệm cho nghề nghiệp của mình. Cơ hội được làm việc đúng chuyên ngành sẽ đến với bạn.
Nếu bạn thuộc nhóm 35% thì hãy ngừng than vãn, hãy làm theo cách của Liên để đưa mình vào nhóm 50%. Chỉ cần quyết tâm và kiên nhẫn, nhóm 15% sẽ chào đón bạn.
dịch vụ chữ ký số tại quận bắc từ liêm
Theo Webketoan
[Read More...]
Bạn muốn học nghề kế toán nhưng không biết đó có phải là một sự chọn sáng suốt hay không ? Xin trả lời với các bạn rằng đó là một lựa chọn tốt nếu bạn thật sự muốn theo đuổi nghề kế toán trong tương lai. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu với các bạn những lý do nên lựa chọn nghề kế toán.
Cơ hội việc làm rất lớn
Với vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý kinh tế, tài chính ở các đơn vị, Luật Kế toán quy định tất cả các đơn vị thuộc tất cả các lĩnh vực trong nền kinh thế quốc dân đều phải tiến hành công việc Kế toán. Điều này có nghĩa là bất cứ cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nào, tùy thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt động, đều cần đến ít nhất một nhân viên kế toán.
Bạn thấy một “thị trường việc làm” thật rộng lớn phải không? Để bạn dễ hình dung, chúng ta sẽ lấy một ví dụ về Kế toán trong các doanh nghiệp:
Theo thống kê (từ năm 1995 đến năm 2003) mỗi năm ở nước ta có gần 2.000 doanh nghiệp mới được thành lập. (Xin bật mí với bạn một thông tin tương đối “nóng”: Theo mục tiêu của Chính phủ, năm 2010, nước ta sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp). Mỗi doanh nghiệp tính trung bình cần từ 4 đến 6 nhân viên kế toán làm việc. Bạn thử tính xem, một con số không nhỏ có phải không nào?
Công việc của một kế toán khá ổn định
Công việc Kế toán thường diễn ra chủ yếu tại Phòng Kế toán của các đơn vị, thời gian làm việc thường theo giờ hành chính (trừ trường hợp đặc biệt như đến kỳ lập báo cáo kế toán thì có thể phải làm thêm ngoài giờ). Nội dung công việc Kế toán ít thay đổi và khi bạn đã thành thục (cần khoảng từ 8 tháng đến một năm tùy thuộc vào khả năng của bạn) thì công việc Kế toán sẽ trở nên thân quen, sẽ là niềm vui của bạn. Nếu bạn là nữ, nghề này được coi là rất ổn định bên cạnh nghề giáo viên. Tất nhiên, vì thế, bạn cũng có nhiều điều kiện hơn để chăm lo cho gia đình riêng của mình.
Môi trường làm việc năng động và chuyên nghiệp
Tuy nghề Kế toán là khá ổn định nhưng không có nghĩa là đơn điệu hay nhàm chán. Công việc của bạn luôn phải bám sát, áp dụng các chế độ chính sách mới của Nhà nước, cũng như các quy định mới của đơn vị về quản lý kinh tế, tài chính. (Theo thống kê, trong hệ thống pháp luật của nước ta, các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế, tài chính chiếm một nửa).
Với thực tế đó, là một Kế toán viên đòi hỏi bạn phải nắm bắt các điều luật, qui định mới… thật nhanh để thực hiện công việc của mình. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các đơn vị kinh tế hiện nay, ngoài việc thực hiện thành thục công việc Kế toán, bạn còn phải có những ý kiến tham mưu cho người lãnh đạo để đơn vị hoạt động ngày càng hiệu quả.
Nhiệm vụ trên đòi hỏi bạn luôn năng động, tiếp thu những kiến thức mới ngoài kiến thức kế toán mà mình đã có.
Thu nhập của nhân viên Kế toán ngày càng cao
Đây là một thực tế và cũng là một lý do rất chính đáng để nhiều người trong số các bạn chọn ngành nghề Kế toán. Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành nghề khác, thu nhập của nhân viên Kế toán phụ thuộc vào từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… Ngoài ra, một yếu tố không kém phần quan trọng khác là chính bản thân năng lực và sự cố gắng ở từng người. Mặc dù vậy, trên thực tế, mức lương nói chung của nhân viên Kế toán hiện nay hoàn toàn có thể khiến bạn tạo được một cuộc sống ổn định.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Là người tạo niềm tin cho mọi người
Một doanh nhân thành đạt đã nói rằng: “Tôi chỉ có thể ngủ ngon khi có một Kế toán trưởng giỏi”.
Đúng vậy, tài sản của cả một đơn vị đang do bạn “nắm giữ” trên các trang sổ kế toán bằng các phương pháp kế toán mà bạn được đào tạo. Bạn có thể trả lời bất kỳ một câu hỏi nào về chúng: Chúng ở đâu? Hiện tại còn bao nhiêu? Trong thời gian vừa qua chúng tăng lên hay giảm đi như thế nào?… (Việc này gần giống như với việc mẹ bạn ghi chép toàn bộ việc chi tiêu của gia đình bạn và do đó mẹ bạn luôn biết nhà bạn còn bao nhiêu tiền).
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng
Quan trọng hơn, nhờ vào việc tính toán lãi lỗ của đơn vị, bạn sẽ giúp trả lời câu hỏi: Việc sử dụng tài sản và thực hiện các hoạt động của đơn vị như vậy đã hiệu quả chưa? Làm thế nào để tốt hơn nữa? Làm tốt công việc Kế toán, bạn sẽ tạo niềm tin cho mọi người trong đơn vị thông qua những con số kế toán mà bạn cung cấp.
Bạn có muốn nhận một lời khen ngợi thẳng thắn và tràn đầy sự tin tưởng như vậy không? Hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ để có những hành trang cho nghề kế toán trong tương lai nhé.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm
Theo Webketoan
[Read More...]
Chúng ta có 2 khái niệm: Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp và Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn
1. Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp
Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng.
Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn.
Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được tạo theo hướng dẫn tại Thông tư này, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành.
Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngừng sử dụng mã số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế).
(Theo điều 22 của Thông tư 39/2014/TT-BTC)
2. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn
- Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (trừ các trường hợp được sử dụng hóa đơn do cơ quan thuế bán hoặc cấp và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư này); cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác.
- Một số trường hợp cụ thể được xác định là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn:
Hóa đơn có nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ.
Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán ra, để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra để gian lận thuế, để bán hàng hóa nhưng không kê khai nộp thuế.
Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán hàng hóa, dịch vụ, nhưng không kê khai nộp thuế, gian lận thuế; để hợp thức hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ.
Hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn.
Sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ mà cơ quan thuế, cơ quan công an và các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.
(Theo điều 23 của Thông tư 39/2014/TT-BTC)
Trường hợp doanh nghiệp có hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn thì:
- Nếu trường hợp doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế thì doanh nghiệp chỉ bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP, Thông tư số 61/2007/TT-BTC, Thông tư số 166/2013/TT-BTC nêu trên, không bị xử lý về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, Thông tư số 10/2014/TT-BTC nêu trên.
(Phạt từ 1 - 3 lần số thuế trốn - theo điều 13 của TT 166/2013/TT-BTC)
- Nếu trường hợp doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn mà không dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế thì doanh nghiệp chỉ bị xử lý về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, Thông tư số 10/2014/TT-BTC nêu trên, không bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP, Thông tư số 61/2007/TT-BTC, Thông tư số 166/2013/TT-BTC nêu trên.
(Phạt từ 20 - 50 triệu - Theo TT 10/2014/TT-BTC)
Theo CV Số: 568/TCT-CS V/v xử lý vi phạm hành chính về hóa đơn - ngày 26 tháng 02 năm 2014
Trong thực tế, ngày một gia tăng các DN bỏ trốn, bỏ địa chỉ kinh doanh, mang theo hóa đơn; mua bán hóa đơn bất hợp pháp để khai khấu trừ thuế; ghi hóa đơn không đúng quy định; sử dụng giấy tờ giả để thành lập công ty, ẩn lậu doanh thu; hành vi lừa đảo bằng hình thức huy động vốn… Trong đó, hành vi bán hàng không xuất hoá đơn ở các loại hình kinh doanh dịch vụ, thương mại, xây dựng… diễn ra phổ biến.
Trường hợp doanh nghiệp phát hiện hoặc được cơ quan Thuế thông báo về những hóa đơn đầu vào là mua của doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh thì kế toán phải xác định xem thời điểm phát sinh hóa đơn đầu vào đó là trước hay sau khi doanh nghiệp bỏ trốn:
Nếu hóa đơn phát sinh sau ngày doanh nghiệp bán hàng bỏ trốn thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và không được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế.
Nếu hóa đơn phát sinh trước ngày doanh nghiệp bán hàng bỏ trốn thì Cục Thuế phải kiểm tra xem xét, đối chiếu với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để xác định có hàng hóa thực tế mua hay mua bán hóa đơn khống để xử lý vi phạm.
- Trường hợp cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của cơ sở kinh doanh bỏ trốn để kê khai khấu trừ thuế GTGT, tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN mà thời điểm mua hàng hóa, dịch vụ phát sinh trước ngày xác định cơ sở kinh doanh bỏ trốn theo thông báo của cơ quan thuế và cơ quan thuế hoặc các cơ quan chức năng khác chưa đủ căn cứ để kết luận đó là hóa đơn bất hợp pháp thì cơ quan thuế phải thực hiện kiểm tra xác định đúng có hàng hóa, dịch vụ mua vào và yêu cầu cơ sở kinh doanh chứng minh và chịu trách nhiệm trước pháp luật việc mua bán là có thật: có hợp đồng mua bán, văn bản chứng từ thanh lý hợp đồng (nếu có), phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, chứng từ thanh toán tiền; hàng hóa, dịch vụ mua vào của cơ sở bỏ trốn được sử dụng để phục vụ hoạt động kinh doanh đã bán ra và đã kê khai thuế, có hạch toán kế toán đầy đủ, đúng quy định thì cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn mua hàng đó và tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Theo CV Số:11797/BTC-TCT V/v hướng dẫn và bổ sung nội dung công văn số 1752/BTC-TCT, ngày 22 tháng 8 năm 2014
Để việc triển khai thực hiện được thống nhất và đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về thuế. Đồng thời kiên quyết đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm trong việc chấp hành các quy định về khấu trừ, hoàn thuế GTGT để trốn thuế, chiếm đoạt thuế GTGT. Bộ Tài chính hướng dẫn, bổ sung một số nội dung và yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
1. Về nguyên tắc xử lý vi phạm phải đảm bảo đúng đối tượng, đúng hành vi, tính chất, mức độ vi phạm và đúng quy định pháp luật; trường hợp liên quan đến các hóa đơn đầu vào đã tổng hợp chuyển cơ quan Công an, thực hiện theo những văn bản,.... của cơ quan Công an
2. Về khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với những doanh nghiệp có mua hàng hóa, sử dụng hóa đơn đầu vào trực tiếp của doanh nghiệp và doanh nghiệp trung gian ngừng kinh doanh, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp nhưng chưa có kết luận chính thức của cơ quan thuế hoặc các cơ quan chức năng (bao gồm cả trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm trước ngày Bộ Tài chính ban hành công văn số 7527/BTC-TCT), thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 13706/BTC-TCT ngày 15/10/2013 và Công văn số 1752/BTC-CTC ngày 10/2/2014 của Bộ Tài chính: cụ thể đối với một số trường hợp thực hiện như sau:
- Trường hợp doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT thì Cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để tạm dừng kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa đơn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chờ kết quả chính thức cơ quan có thẩm quyền. Doanh nghiệp chỉ được thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn không có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
- Trường hợp doanh nghiệp đã kê khai khấu trừ thuế GTGT thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khấu trừ. Trường hợp doanh nghiệp khẳng định việc mua bán hàng hóa và hóa đơn GTGT đầu vào sử dụng kê khai khấu trừ là đúng quy định thì doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật, đồng thời cơ quan thuế phải thực hiện thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp để kết luận và xử lý vi phạm theo quy định. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra phải thực hiện xác minh, đối chiếu với doanh nghiệp có quan hệ mua bán về một số nội dung.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
+ Kiểm tra, xác minh về hàng hóa: Hợp đồng mua bán hàng hóa (nếu có); hình thức giao nhận hàng hóa; địa điểm giao nhận hàng hóa; phương tiện vận chuyển hàng hóa; chi phí vận chuyển hàng hóa; chủ sở hữu hàng hóa và nguồn gốc hàng hóa (trước thời điểm giao nhận hàng hóa)
+ Kiểm tra xác minh về thanh toán: Ngân hàng giao dịch; đối tượng nộp tiền vào tài khoản để giao dịch; số lần thực hiện giao dịch; hình thức thanh toán; chứng từ thanh toán.
+ Kiểm tra xác minh về xuất khẩu hàng hóa: Tờ khai hải quan có xác nhận thực xuất của Cơ quan hải quan; chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Vận đơn (nếu có).
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Qua thanh tra, kiểm tra nếu xác minh được việc mua bán hàng hóa là có thực và đúng với quy định của pháp luật thì giải quyết cho doanh nghiệp được khấu trừ, hoàn thuế GTGT; đồng thời yêu cầu doanh nghiệp cam kết nếu trong các hồ sơ, tài liệu doanh nghiệp xuất trình cho cơ quan Thuế sau này phát hiện có sai phạm, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, có dấu hiệu tội phạm thì lập và chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Nếu việc tạm dừng khấu trừ thuế dẫn đến tăng số thuế GTGT phải nộp thì Cơ quan thuế có trách nhiệm tổng hợp, theo dõi các trường hợp này, chưa yêu cầu nộp và chưa tính phạt nộp chậm chờ kết luận chính thức của Cơ quan có thẩm quyền.
dịch vụ chữ ký số tại quận ba đình
Sưu tầm
[Read More...]
Kế toán và Quản trị Kinh doanh luôn là hai ngành luôn có “sức hút” với các sĩ tử trong nhiều năm qua. Mỗi ngành có những đặc điểm, lợi thế và cơ hội việc làm khác nhau.
Kế toán – cơ hội việc làm rộng mở
Muốn học ngành Kế toán, trước tiên phải hiểu rõ kế toán là gì? Kế toán là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tài chính của một tổ chức, một doanh nghiệp, một cơ quan nhà nước, một cơ sở kinh doanh tư nhân… Bởi vậy đây là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Từ quản lý ở phạm vi từng đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp cho đến quản lý ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
Theo số liệu báo cáo kinh tế, đến năm 2018, tỷ lệ việc làm của lĩnh vực kế toán tăng trưởng khoảng 22% mỗi năm. Cũng bởi hàng tháng nước ta có hàng nghìn doanh nghiệp được thành lập trong khi đó trung bình mỗi doanh nghiệp cần 2-6 kế toán viên. Chính vì vậy mà cơ hội việc làm của ngành Kế toán là vô cùng rộng lớn.
Người học ngành Kế toán có rất nhiều lựa chọn hấp dẫn về việc làm. Không chỉ là những chuyên viên phụ trách kế toán, kiểm toán, giao dịch ngân hàng, thuế, thủ quỹ… mà sau khi tốt nghiệp, bạn có thể làm nhân viên mô giới chứng khoán, quản lý dự án hay nghiên cứu, giảng dạy hoặc làm thanh tra kinh tế.
Quản trị kinh doanh – ngành học năng động, đầy thử thách
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Quản trị kinh doanh luôn là một ngành chiếm thứ hạng cao trong hồ sơ đăng kí xét tuyển của thí sinh. Nhưng nhiều bạn chưa hiểu quản trị kinh doanh là gì. Quản trị kinh doanh là việc thực hiện các hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa hóa “hiệu suất”, “quản lý hoạt động kinh doanh” bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý.
Một câu hỏi phổ biến hiện nay, ai cũng học làm sếp (hiểu theo nghĩa quản trị chính là quản lý, lãnh đạo), vậy lấy ai ra sẽ làm lính? Và có phải cứ học Quản trị Kinh doanh đương nhiên ra trường trở thành giám đốc?
Không có một ngành học nào dạy sinh viên ra trường mà có thể làm giám đốc, CEO ngay được. Học quản trị kinh doanh sẽ cho các bạn biết cho bạn biết làm sao để có thể trở thành giám đốc, CEO và con đường ngắn nhất để đạt đến thành công.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm
Sau khi tốt nghiệp, cử nhân ngành quản trị kinh doanh có thể làm chuyên viên tại phòng kinh doanh, phòng kế hoạch, phòng marketing, phòng hỗ trợ – giao dịch khách hàng. Hay tuyển dụng vào một số vị trí như: nhân viên kế hoạch đầu tư, nhân viên bộ phận nhân sự, nhân viên bán hàng, nhân viên tổ chức hành chính, nhân viên bộ phận kế hoạch bán hàng, nhân viên phát triển hệ thống, nhân viên kinh doanh, nhân viên xuất nhập khẩu… nếu như bạn có đủ nguồn lực có thể khởi nghiệp với việc tự thành lập và điều hành công ty riêng. Cũng có thể không theo kinh doanh mà giảng dạy ngành này tại các trường Cao đẳng – Đại học.
Mỗi một ngành học đều có những thách thức và cơ hội việc làm khác nhau. Việc lựa chọn ngành học nên xuất phát từ niềm đam mê, nguồn lực của bản thân. Tuy nhiên, nếu xét thấy bản thân có đủ sự cẩn thận, nhanh nhẹn, cầu toàn, Kế toán là một gợi ý cho bạn. Trong trường hợp bạn tự tin về trình độ, khả năng thích ứng với mọi môi trường, có kĩ năng lãnh đạo, giao tiếp tốt, thích làm việc trong môi trường sáng tạo, năng động, dám đương đầu với thử thách, bạn hoàn toàn có tố chất để theo học Quản trị kinh doanh.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Theo hocvtc
[Read More...]
Khi học kế toán trên ghế nhà trường, bạn chưa có cơ hội tiếp xúc với các loại chứng từ nên sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc mua hóa đơn lần đầu. Do đó, xin chia sẽ với các bạn về thủ tục mua hóa đơn lần đầu cần chuẩn bị các bước sau:
Các bước thực hiện
- Doanh nghiệp cần mua hóa đơn tiến hành làm các hồ sơ cần thiết để mua hóa đơn.
- Doanh nghiệp giới thiệu người đến nộp hồ sơ tại chi cục thuế tỉnh thành phố thuộc trung ương, cán bộ tiếp nhận và gửi lại giấy xác nhận nộp hồ sơ;
- Cơ quan thuế cử cán bộ đến trụ sở doanh nghiệp kiểm tra thực tế.
- Đại diện doanh nghiệp đến chi cục thuế để nhận sổ mua hóa đơn và hóa đơn mua lần đầu.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hà đông
Hồ sơ mua hóa đơn lần đầu
Đơn xin mua hóa đơn (có mẫu kèm theo)
Giấy giới thiệu của doanh nghiệp đối với người đi mua hóa đơn.
Chứng minh thư nhân dân của người đi mua hóa đơn.
Biên bản xác nhận địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàng mai
Số lượng hồ sơ 01 bản..
Thời hạn giải quyết
15 ngày làm việc: sẽ được cấp 01 sổ mua hóa đơn và hóa đơn mua lần đầu.
Lệ phí
Theo quy định của Chi cục thuế.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Theo ke-toan
[Read More...]